vanban.org

Điều 5. Bồi thường chi phí di chuyển tài sản khi Nhà nước thu hồi đất — Quyết định 25/2024/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 27/01/2026 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 27/01/2026 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 11/2026/QĐ-UBND · 17/01/2026 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 52/2025/QĐ-UBND · 01/11/2025
Bắc Giang Ban hành 10/09/2024 Hiệu lực 21/09/2024 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 9 năm
Quyết định số 25/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang · 25/2024/QĐ-UBND
27/01/202611/2026/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 21/09/2024Bản gốcThay thế
Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong công tác thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang · 01/2017/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 25/2024/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Bồi thường chi phí di chuyển tài sản khi Nhà nước thu hồi đất

Mức bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Luật Đất đai như sau:

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì được Nhà nước bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt, như sau:

a) Di chuyển trong cùng địa giới hành chính xã, phường, thị trấn: 10.000.000 đồng.

b) Di chuyển sang địa giới hành chính xã, phường, thị trấn khác trong cùng huyện, thành phố, thị xã: 15.000.000 đồng.

c) Di chuyển sang địa giới hành chính huyện, thành phố, thị xã khác trong tỉnh: 20.000.000 đồng.

d) Di chuyển sang địa giới hành chính tỉnh, thành phố khác: 25.000.000 đồng.

2. Trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất còn được bồi thường đối với thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt; mức bồi thường cụ thể do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với người có tài sản phải di chuyển lập dự toán báo cáo Uỷ ban nhân dâncấp huyện gửi cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành thẩm định, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo từng trường hơp.