Điều 4. Nguyên tắc và căn cứ xét khen thưởng
1. Nguyên tắc khen thưởng:
a. Chính xác, công khai, công bằng, kịp thời; Chú trọng khen thưởng cá nhân là người trực tiếp lao động, công tác, chiến đấu và cá nhân có nhiều sáng tạo trong lao động, công tác.
b. Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng, không tặng thưởng hoặc đề nghị tặng thưởng nhiều hình thức cho một thành tích đạt được.
c. Khi xét khen thưởng người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải căn cứ vào thành tích của tập thể do cá nhân đó lãnh đạo. Người đứng đầu tập thể chỉ được khen thưởng và đề nghị khen thưởng từ cấp tỉnh trở lên khi tập thể được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hoặc được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen (trừ khen thưởng đột xuất).
d. Trong cùng một cấp, thời gian đề nghị khen thưởng cho lần tiếp theo được tính từ khi có quyết định khen thưởng lần trước.
đ. Trong một năm không trình khen thưởng hai lần cho một đối tượng, ở cùng một cấp, trừ thành tích xuất sắc đột xuất.
e. Không trình khen thưởng từ cấp tỉnh trở lên cho các tập thể, cá nhân tham gia các hội thi, hội thao, hội diễn, diễn đàn hoặc các hội nghị sơ, tổng kết việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị định.
g. Không xem xét khen thưởng: Đối với các tập thể, cá nhân không đăng ký thi đua; người đứng đầu cơ quan, đơn vị mà trong năm đó đơn vị có từ 02 lần trở lên, bị cơ quan cấp trên phê bình bằng văn bản. Đối với cá nhân là cấp phó được phân công phụ trách các lĩnh vực, trên cơ sở kết quả cụ thể của lĩnh vực đó, thủ trưởng đơn vị xem xét trình khen.
h. Có thể xem xét khen thưởng đối với các tập thể có quy mô lớn; các đơn vị cơ sở; đơn vị sự nghiệp nhân dịp kỷ niệm năm tròn, (Năm có chữ số cuối cùng là “0”) trên cơ sở thành tích phù hợp. Không xem xét khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân trực thuộc đơn vị khi kỷ niệm ngày thành lập.
i. Hàng năm UBND tỉnh sẽ không xác nhận, đề nghị hoặc hiệp y khen thưởng đối với các bộ ngành, đoàn thể TW khen thưởng tổng kết cho các sở, ngành, đơn vị thuộc tỉnh (Trừ khen theo cụm, khối thi đua hoặc khen theo các lĩnh vực, chuyên đề do UBND tỉnh lựa chọn).
k. Đối với các tổ chức Hội không được giao biên chế: Không xem xét khen thưởng hàng năm cho tập thể Hội và các tập thể, cá nhân thuộc các Hội, chỉ xem xét khen thưởng trong các kỳ Đại hội, khi có thành tích theo quy định. Đối với các tổ chức Hội, tham gia Khối thi đua của tỉnh, việc khen thưởng cho tập thể Hội thực hiện theo quy chế hoạt động của các Khối thi đua, do UBND tỉnh quy định.
l. Đối với khen thưởng tổng kết giai đoạn: Cấp, ngành nào tổ chức Hội nghị tổng kết giai đoạn (Hội nghị điển hình tiên tiến) thì cấp, ngành đó khen thưởng theo thẩm quyền.
2. Căn cứ xét khen thưởng:
a. Khen thưởng thường xuyên: Được thực hiện vào dịp tổng kết năm công tác, theo các căn cứ tiêu chuẩn luật định và Quy định này; thành tích đạt được trong điều kiện khó khăn có phạm vi ảnh hưởng lớn được xem xét, đề nghị khen thưởng ở mức cao hơn.
b. Khen thưởng theo chuyên đề:
b1. Các chuyên đề do Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch UBND tỉnh phát động: Việc khen thưởng được thực hiện theo các quy định trong kế hoạch tổ chức phong trào thi đua của UBND tỉnh, trên nguyên tắc lấy kết quả thực hiện so với chỉ tiêu kế hoạch được giao hoặc chỉ tiêu thi đua đăng ký và căn cứ vào điều kiện, khả năng thực tế khi thực hiện nhiệm vụ để xét khen thưởng. Số lượng trình khen thưởng cấp tỉnh không quá 15 tập thể, cá nhân thực sự tiêu biểu xuất sắc được các cấp, các ngành lựa chọn từ cơ sở.
b2. Các chuyên đề do bộ, ngành, đoàn thể TW phát động: Việc khen thưởng từ cấp tỉnh trở lên chỉ thực hiện khi: Kế hoạch tổ chức phong trào thi đua có đăng ký các chỉ tiêu thi đua; hàng năm có báo cáo đánh giá kết quả thực hiện gửi Thường trực Hội đồng TĐKT tỉnh theo dõi, tổng hợp; Tổng kết giai đoạn 05 năm; Kế hoạch tổng kết được Tỉnh uỷ, UBND tỉnh phê duyệt; Đối tượng khen thưởng là các tập thể, cá nhân ở cơ sở, người trực tiếp lao động, sản xuất, công tác. Số lượng trình khen thưởng cấp tỉnh không quá 10 tập thể, cá nhân thực sự tiêu biểu xuất sắc. Đối với phong trào thi đua “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” hàng năm được áp dụng theo các quy định tại Điểm b2, Điều này.
c. Khen thưởng thành tích xuất sắc đột xuất, phải là những thành tích lập được trong hoàn cảnh không được dự báo trước, diễn ra ngoài dự kiến kế hoạch công việc bình thường; có phạm vi ảnh hưởng lớn, có tác dụng nêu gương học tập trong toàn ngành, toàn tỉnh được cơ quan có thẩm quyền công nhận và đề nghị.