Điều 4. Quy định độ mật và việc soạn thảo, in, sao, chụp tin, tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
1. Căn cứ danh mục bí mật nhà nước đã được cấp có thẩm quyền quyết định, Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Huế, các thị xã và các huyện (gọi chung là Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương) trên địa bàn tỉnh phải có văn bản quy định cụ thể:
- Loại tài liệu, vật mang bí mật nhà nước thuộc độ Tuyệt mật;
- Loại tài liệu, vật mang bí mật nhà nước thuộc độ Tối mật;
- Loại tài liệu, vật mang bí mật nhà nước thuộc độ Mật.
Căn cứ vào các quy định nói trên, khi soạn thảo tài liệu có nội dung bí mật nhà nước, người soạn thảo tài liệu phải đề xuất độ mật của từng tài liệu; người duyệt ký tài liệu có trách nhiệm quyết định việc đóng dấu độ mật (Tuyệt mật, Tối mật, Mật) và phạm vi lưu hành tài liệu mang bí mật nhà nước.
2. In, sao, chụp tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
a) Tiến hành ở nơi đảm bảo bí mật, an toàn do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, địa phương trực tiếp quản lý tài liệu, vật mang bí mật nhà nước đó quy định.
b) Người quyết định in, sao, chụp tài liệu vật mang bí mật nhà nước phải quyết định rõ số lượng in, sao, chụp là bao nhiêu bản và chỉ được in đúng số lượng đã được quyết định, không in thừa hoặc thiếu. Tài liệu in, sao, chụp phải được bảo vệ như bản gốc. Sau khi in, sao, chụp xong phải kiểm tra lại và hủy ngay bản dư thừa và những bản in, sao, chụp bị hư hỏng.
c) Đánh máy, in, sao, chụp tài liệu mật xong phải đóng dấu độ mật, dấu thu hồi (nếu cần), đánh số trang, số bản, số lượng in, phạm vi lưu hành, nơi nhận, tên người đánh máy in, sao, chụp tài liệu.
d) Không sử dụng máy tính đã nối mạng internet đánh máy, in, sao, chụp tài liệu mật.
e) Bí mật nhà nước sao, chụp ở dạng băng, đĩa phải được niêm phong và đóng dấu độ mật ghi rõ tên người sao, chụp ở bì niêm phong.
f) Đối với vật mang bí mật nhà nước phải có văn bản ghi rõ tên của vật lưu kèm theo và đóng dấu độ mật vào văn bản này.