Điều 10. Tổng công ty có quyền quản lý tài chính như sau:
1. Được sử dụng vốn và các quỹ của Tổng công ty để phục vụ kịp thời các nhu cầu kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn, có hiệu quả.
2. Tự huy động vốn để hoạt động kinh doanh; được phát hành trái phiếu; được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất, tài sản hữu hình và vô hình thuộc quyền quản lý của Tổng công ty tại các ngân hàng để vay vốn kinh doanh.
3. Quyết định trích khấu hao cơ bản theo nguyên tắc mức trích tối thiểu phải bảo đảm bù đắp hao mòn hữu hình và vô hình, không thấp hơn mức trích khấu hao tối thiểu do Nhà nước quy định; có thể tự quyết định tăng tỷ lệ trích khấu hao để thu hồi vốn nhanh nhưng phải bảo đảm hiệu quả kinh tế; được quyền sử dụng phần vốn của Nhà nước thu về do cổ phần hoá, nhượng bán, cho thuê, thanh lý một công ty con hoặc công ty liên kết.
4. Được sử dụng lợi nhuận còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước để lập các quỹ theo quy định hiện hành và chia cho người lao động theo cống hiến của mỗi người vào kết quả kinh doanh trong năm.
5. Được hưởng các chế độ trợ cấp, trợ giá hoặc các chế độ ưu đãi khác của Nhà nước khi thực hiện các nhiệm vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ phục vụ quốc phòng an ninh, phòng chống thiên tai, hoạt động công ích, nghiên cứu, đào tạo ... hoặc theo chính sách giá của Nhà nước mà không bù đắp đủ chi phí sản xuất sản phẩm, dịch vụ này của Tổng công ty.
6. Được hưởng các chế độ ưu đãi đầu tư hoặc tái đầu tư theo quy định của Nhà nước.
7. Được hưởng các chế độ ưu đãi khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm phát triển ngành công nghiệp tầu thuỷ quốc gia.
8. Có quyền từ chối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào, trừ những khoản tự nguyện đóng góp vì mục đích nhân đạo và công ích.