Điều 28. Ban Quản lý di tích địa phương
1. Thành lập Ban Quản lý di tích:
a) Đối với các di tích quốc gia đặc biệt và các di tích quốc gia tiêu biểu: thành lập phòng Quản lý Di tích quốc gia đặc biệt trực thuộc Ban Quản lý di tích tỉnh.
b) Đối với di tích cấp quốc gia; di tích cấp tỉnh; các di tích được kiểm kê: Chủ tịch (hoặc Phó Chủ tịch) UBND cấp xã làm Trưởng ban; Trưởng thôn (trưởng khu phố) làm Phó ban Thường trực; đại diện các ban, ngành, đoàn thể: Mặt trận tổ quốc, Hội người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, chức sắc, nhà tu hành sinh hoạt hợp pháp, ông từ, trưởng các dòng họ... nơi có di tích làm ủy viên.
c) Việc thành lập Ban Quản lý di tích: thực hiện theo thẩm quyền phân cấp quản lý di tích được quy định tại Điều 10 của Quy định này.
2. Ban quản lý di tích địa phương có trách nhiệm:
a) Bảo vệ, gìn giữ toàn bộ di tích (cảnh quan, môi trường, đất đai, kiến trúc, điêu khắc, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia…);
b) Chịu trách nhiệm trực tiếp khi để di tích bị xâm phạm, hủy hoại như: xâm lấn đất đai, mất mát thất lạc cổ vật của di tích, làm giả mạo cổ vật, hoạt động mê tín dị đoan trong di tích…;
c) Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm, hủy hoại đến di tích;
d) Thông báo kịp thời cho cơ quan chủ quản cấp trên trực tiếp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa khi di tích có nguy cơ bị xâm phạm, hủy hoại, lấn chiếm, mất mát cổ vật, hoạt động mê tín dị đoan;
đ) Tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đến tham quan, nghiêm cứu, du lịch, tham gia các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội hợp pháp tại di tích.