Điều 13. Chuyển giao tài sản đã kê biên để bán đấu giá
1. Đối với tài sản bị kê biên có giá trị đã định trên 10 triệu đồng, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định kê biên, người chủ trì cưỡng chế ký hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản của tỉnh. Trường hợp các tài sản có giá trị dưới 10 triệu đồng thì người chủ trì cưỡng chế ký hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá với cơ quan tài chính cấp huyện.
2. Việc chuyển giao tài sản kê biên cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá phải được lập thành biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ ngày, tháng, năm bàn giao; người bàn giao, người nhận; số lượng, tình trạng tài sản. Hồ sơ bàn giao tài sản kê biên cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá bao gồm: Quyết định cưỡng chế kê biên; các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp (nếu có); văn bản định giá tài sản kê biên và biên bản bàn giao tài sản đó.
3. Trường hợp số tiền bán đấu giá tài sản nhiều hơn số tiền ghi trong quyết định xử phạt hoặc thông báo nộp thuế, nộp phạt và chi phí cho việc cưỡng chế thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày bán đấu giá, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá làm thủ tục trả lại phần chênh lệch cho người, tổ chức bị cưỡng chế.
4. Trong trường hợp tài sản kê biên là hàng hoá cồng kềnh hoặc có số lượng lớn mà Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh không có nơi cất giữ tài sản thì sau khi thực hiện xong thủ tục chuyển giao có thể ký hợp đồng bảo quản tài sản với nơi đang giữ tài sản đó. Chi phí cho việc thực hiện hợp đồng bảo quản được thanh toán từ số tiền bán đấu giá tài sản thu được sau khi bán đấu giá.
5. Khi tài sản kê biên đã được chuyển giao cho cơ quan có trách nhiệm bán đấu giá thì thủ tục bán đấu giá tài sản đó được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về bán đấu giá tài sản.
6. Đối với tài sản thuộc sở hữu chung, khi bán đấu giá thì ưu tiên bán trước cho người đồng sở hữu.