vanban.org

Điều 12. Gửi, công khai quyết định cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực pháp luật — Quyết định 23/2017/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2025
Kiên Giang Ban hành 30/06/2017 Hiệu lực 10/07/2017 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 13 năm
Quyết định số 23/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy định về việc cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hòa giải thành trên địa bàn tỉnh Kiên Giang · 23/2017/QĐ-UBND
10/07/2017Bản gốcThay thế Đang xem
Quyết định số 14/2013/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định thi hành Quyết định giải quyết khiếu nại và Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực pháp luật trên địa bàn tỉnh Kiên Giang · 14/2013/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 23/2017/QĐ-UBND › Chương II › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Gửi, công khai quyết định cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực pháp luật

1. Trong thời hạn năm (05) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định cưỡng chế, Ban thực hiện cưỡng chế gửi quyết định cưỡng chế cho người bị cưỡng chế, tổ chức, cá nhân có liên quan và niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, khu phố, ấp nơi có đất tranh chấp. Quyết định cưỡng chế được triển khai, giao trực tiếp hoặc gửi bưu điện bằng hình thức bảo đảm trong trường hợp đối tượng bị cưỡng chế cư trú ngoài địa bàn tỉnh Kiên Giang.

a) Đối với trường hợp quyết định cưỡng chế thi hành quyết định giao trực tiếp mà người bị cưỡng chế không nhận hoặc không đến làm việc theo thư mời thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản về việc không nhận quyết định, vắng mặt và lập biên bản niêm yết quyết định cưỡng chế thi hành quyết định tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện cưỡng chế, có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc hai (02) người chứng kiến ký tên thì được coi là quyết định đã được giao;

Đối với trường hợp người bị cưỡng chế vắng mặt thì quyết định cưỡng chế được giao cho cha, mẹ, vợ, chồng, con của người bị cưỡng chế. Khi những người này từ chối nhận quyết định cưỡng chế hoặc không đáp ứng đủ điều kiện nhận quyết định cưỡng chế (không cư trú cùng ấp, cùng khu phố) thì mới lập biên bản vắng mặt, không nhận quyết định; lập biên bản niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện cưỡng chế, có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc 02 người chứng kiến ký tên.

b) Đối với trường hợp gửi bưu điện bằng hình thức bảo đảm, nếu sau thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày quyết định cưỡng chế được gửi bằng đường bưu điện đến lần thứ ba mà bị trả lại do cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế cố tình không nhận hoặc có căn cứ cho rằng người bị cưỡng chế trốn tránh không nhận quyết định cưỡng chế và quyết định đã được niêm yết tại nơi cư trú của cá nhân, trụ sở của tổ chức bị cưỡng chế thì được coi là quyết định đã được triển khai, giao đến người bị cưỡng chế thi hành quyết định.

2. Gửi cho các bên có liên quan trong tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi thực hiện việc cưỡng chế và các tổ chức, cá nhân liên quan.