Điều 11. thẩm quyền định giá
1) Tài sản, hàng hóa thuộc thẩm quyền định giá của Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Giá cước vận chuyển hàng hóa và hành khách trong thị xã, liên huyện, liên tỉnh do Công ty xe khách xây dựng phương án giá, Sở Giao thông - Vận tải trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định sau khi có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Sở Tài chính.
b) Giá bán báo của cơ quan Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh do Ban biên tập báo xây dựng phương án, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi có ý kiến của các cơ quan liên quan và ý kiến thẩm định bằng văn bản của Sở Tài chính.
c) Giá đất cụ thể tại địa phương, Sở Tài chính căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất do Chính phủ quyết định và hướng dẫn của Bộ Tài chính để lập phương án giá, trình Ủy ban nhân dân tỉnh để Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng Nhân tỉnh trước khi quyết định.
Giá đất được sử dụng làm căn cứ để:
- Tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất;
- Tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất;
- Tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ;
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất;
- Tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước.
d) Giá thuê mặt nước tại địa phương do Sở Tài chính căn cứ vào khung giá cho thuê mặt nước do Chính phủ quyết định và hướng dẫn của Bộ Tài chính để xây dựng phương án giá, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định, sau khi có ý kiến của Sở Tài nguyên và Môi trường và các ngành có liên quan.
đ) Giá bán hoặc giá cho thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho các đối tượng tái định cư, đối tượng chính sách; giá bán hoặc giá cho thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước để làm việc hoặc sử dụng vào mục đích khác do Sở Xây dựng căn cứ vào khung giá hoặc giá chuẩn nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước để bán, cho thuê do Chính phủ quyết định và căn cứ vào giá nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho thuê hoặc bán cho các đối tượng tái định cư, đối tượng chính sách do Thủ tướng Chính phủ quyết định để trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định, sau khi có ý kiến của các ngành có liên quan và ý kiến thẩm định bằng văn bản của Sở Tài chính.
e) Giá bán điện đối với nguồn điện do địa phương quản lí, không thuộc mạng lưới điện quốc gia do đơn vị quản lí nguồn điện trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định, sau khi có ý kiến của các ngành có liên quan và ý kiến thẩm định bằng văn bản của Sở Tài chính.
f) Mức trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa thuộc danh mục được trợ giá, trợ cước vận chuyển chi từ ngân sách địa phương và trung ương; mức giá bán lẻ hoặc khung giá bán lẻ hàng hoá được trợ giá, trợ cước vận chuyển do đơn vị được chỉ định sản xuất, kinh doanh hàng hoá dịch vụ xây dựng phương án giá, Sở Tài chính thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định sau khi có ý kiến của sở quản lí ngành hàng, các cơ quan có liên quan.
g) Giá bán nước sạch cho sinh hoạt do đơn vị sản xuất, kinh doanh nước sạch căn cứ vào khung giá và hướng dẫn của Bộ Tài chính để lập phương án giá, Sở tài chính thẩm định và trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định, sau khi có ý kiến của Sở quản lí chuyên ngành và các cơ quan có liên quan.
h) Giá hàng hóa, dịch vụ sản xuất theo đặt hàng của tỉnh thuộc ngân sách địa phương không qua hình thức đấu thầu, đấu giá thực hiện theo quy định tại Thông tư số 05/2004/TT-BTC ngày 30-01-2004 của Bộ Tài chính “Hướng dẫn quản lí giá đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước đặt hàng thanh toán bằng ngân sách Nhà nước”.
Ngoài những tài sản hàng hoá, dịch vụ quy định tại điểm 1 nói trên, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định một số loại hàng hóa, dịch vụ quan trọng khác (vé trông giữ xe đạp, xe máy; giá lắp đặt đồng hồ đo đếm điện, đồng hồ nước) có tác động đến phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương sau khi có ý kiến của Hội đồng nhân dân tỉnh nhằm bình ổn giá, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân tổ chức kinh doanh, của người tiêu dùng và lợi ích của Nhà nước.
2) Trách nhiệm và quyền hạn của Sở Tài chính:
a) Sở Tài chính là cơ quan tham mưu của Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lí Nhà nước về giá và có quyền hạn và trách nhiệm trên địa bàn tỉnh như sau:
- Hướng dẫn thực hiện các quy định về quản lí giá của Trung ương và địa phương.
- Thông báo kịp thời các loại giá Trung ương và tỉnh quy định đến các ngành, các địa phương và cơ sở trong tỉnh thực hiện.
- Phối hợp với Sở Xây dựng thông báo giá vật liệu xây dựng, giá vật tư trang thiết bị chủ yếu trong thời gian làm cơ sở xây dựng dự toán, giá xét thầu, giá khoán gọn các công trình xây dựng cơ bản.
- Chủ trì cùng các cơ sở, ngành quản lí có liên quan, thẩm định phương án giá hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoảng 1 Điều 11, trước khi trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
- Thu thập và xử lí các thông tin về giá, báo cáo kịp thời theo yêu cầu chỉ đạo của Trung ương và tỉnh.
- Tổ chức chỉ đạo đăng kí giá niêm yết, chủ trì hiệp thương giá.
- Ngoài ra phản ánh kịp thời và đề xuất biện pháp xử lí khi tình hình giá cả thị trường tăng đột biến lớn.
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra giá, xử lí về kinh tế những vụ vi phạm kỷ luật về giá theo quy định hiện hành.
- Tổ chức khảo sát chi phí sản xuất, chi phí lưu thông, doanh lợi các sản phẩm chủ yếu như: dừa, mía, lúa, tôm, cây ăn trái . . . để kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh có biện pháp tác động sản xuất kinh doanh có hiệu quả và kiến nghị Trung ương xem xét bảo hộ sản xuất khi cần thiết.
b) Được quyền thẩm định, quy định giá bán hàng hóa dịch vụ như sau:
- Thẩm định giá các loại tài sản hàng hoá và dịch vụ lắp đặt sửa chữa do các cơ quan thuộc tỉnh quản lí mua sắm, thanh toán bằng kinh phí ngân sách nhà nước cấp (chỉ thẩm định đối với tài sản, hàng hoá dịch vụ, sửa chữa có giá trị đơn chiếc từ 5.000.000 đồng trở lên hoặc mua sắm, sửa chữa một lần cùng một loại tài sản có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên).
- Thẩm định giá bán các loại tài sản không cần dùng phải xử lí, thanh lí hình thành từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước của các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước thuộc tỉnh quản lí.
- Quy định giá tài sản hàng hóa tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước của các vụ án kinh tế, hình sự, buôn lậu. . .
3) Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã:
a) Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã là cơ quan quản lí Nhà nước về giá trên địa bàn tổ chức chỉ đạo thực hiện các chính sách giá, mức giá do cấp có thẩm quyền quy định.
Thông tin giá cả thị trường lên cấp trên, kiểm tra, thanh tra đối với các doanh nghiệp trực thuộc huyện, thị xã.
b) Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã được quyền: quyết định giá bán tài sản không cần dùng, tài sản thanh lí thuộc nguồn vốn ngân sách của các đơn vị hành chính sự nghiệp và các doanh nghiệp Nhà nước do huyện, thị xã quản lí có giá mua ban đầu dưới 100 triệu đồng trên một dơn vị tài sản (trừ xe ôtô), nhà cấp 4 trở xuống không còn sử dụng được (trừ diện tích đất) hoặc để giải phóng mặt bằng đối với những dự án đã được duyệt.
- Thẩm định giá mua sắm tài sản, hàng hoá, dịch vụ sữa chữa từ nguồn vốn ngân sách huyện, thị xã. (Tài sản có giá trị đơn chiếc từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc mua một lần cùng một loại tài sản có giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên). Đối với tài sản qua đấu thầu và qua hội đồng định giá thì không phải thẩm định giá.
- Quyết định giá bán tài sản hàng hóa bị tịch thu hoặc sung vào công quỹ trong các vụ án do cơ quan nội chính huyện, thị xã xử lí.
- Đề xuất giá bán các loại, giá cho thuê mặt nước trên địa bàn để Sở Tài chính thẩm định trình Ủy ban nhân dân tỉnh.
4) Đơn giá xây dựng cơ bản; giá dịch vụ thiết kế; xác định giá, thẩm định giá trong kết quả đấu thầu (bao gồm cả đấu thầu xây dựng và đấu thầu mua sắm tài sản chi từ nguồn ngân sách của Nhà nước) thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật.