Điều 24. Thẻ thanh toán.
24.1. Thẻ thanh toán do Ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền mặt tự động.
24.2. Thẻ thanh toán có nhiều loại, trước mắt áp dụng ba loại thẻ sau:
a. Thẻ ghi nợ: áp dụng đối với những khách hàng có quan hệ tín dụng, thanh toán thường xuyên, có tín nhiệm với Ngân hàng, do Giám đốc Ngân hàng phát hành thẻ xem xét quyết định.
Mỗi thẻ có ghi hạn mức thanh toán tối đa do Ngân hàng phát hành thẻ quy định, khách hàng chỉ được thanh toán trong phạm vi hạn mức của thẻ.
b. Thẻ ký quỹ thanh toán: áp dụng rộng rãi cho mọi khách hàng muốn sử dụng loại thẻ này, khách hàng phải lưu ký tiền vào một tài khoản riêng tại ngân hàng và được sử dụng thẻ có giá trị thanh toán bằng số tiền ký quỹ ghi trong thẻ đã lưu ký.
c. Thẻ tín dụng áp dụng đối với khách hàng có đủ điều kiện được Ngân hàng đồng ý cho vay tiền. Khách hàng chỉ được thanh toán số tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được Ngân hàng chấp thuận bằng văn bản.
24.3. Ngân hàng phát hành thẻ là Ngân hàng bán thẻ cho khách hàng và chịu trách nhiệm thanh toán số tiền do khách hàng (người sử dụng thẻ) trả cho người thụ hưởng - Ngân hàng phát thẻ có thể uỷ nhiệm cho một số chi nhánh ngân hàng phát hành và quản lý thẻ.
Người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ là các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho người sử dụng thẻ.
Ngân hàng đại lý thanh toán là các chi nhánh Ngân hàng do Ngân hàng phát hành thẻ quy định. Ngân hàng đại lý thanh toán có trách nhiệm thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ khi nhận được biên lai thanh toán. Người sử dụng thẻ có thể sử dụng thẻ để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán hoặc tại các quầy trả tiền mặt tự động; mỗi lần rút không quá 5 triệu đồng và mỗi ngày một thẻ chỉ được rút tiền mặt một lần.
24.4. Nếu mất thẻ, người sử dụng thẻ phải thông báo ngay bằng văn bản cho Ngân hàng phát thẻ biết; Ngân hàng phát hành thẻ phải thông báo bằng văn bản đến các Ngân hàng đại lý phát hành thẻ để Ngân hàng đại lý thông báo bằng văn bản đến người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ biết.
24.5. Khi sử dụng hết hạn mức tín dụng, hết số dư ký quỹ ghi trong thẻ hoặc hết hạn sử dụng thẻ, nếu có nhu cầu, người sử dụng thẻ phải đến Ngân hàng phát hành thẻ để làm thủ tục sử dụng tiếp.
24.6. Người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ và người sử dụng thẻ phải trả phí cho Ngân hàng phát hành thẻ.
24.7. Ngân hàng phát hành thẻ có trách nhiệm thanh toán ngay số tiền theo biên lai do Ngân hàng đại lý chuyển đến sau khi Ngân hàng đại lý đã thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ theo đúng thủ tục quy định của Ngân hàng phát hành thẻ; hoàn trả lại cho người sử dụng thẻ tiền ký quỹ không sử dụng hết.
24.8. Người sử dụng thẻ phải bảo quản thẻ; sử dụng thẻ đúng quy định; không giao thẻ cho người khác sử dụng.
24.9. Người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ chỉ nhận thanh toán các thẻ đã kiểm tra đúng mật mã và quy định về kỹ thuật an toàn của Ngân hàng phát hành thẻ; không tiếp nhận các thẻ có thông báo mất thẻ hoặc cấm lưu hành. Trong phạm vi 10 ngày làm việc kể từ ngày viết hoá đơn cung ứng hàng hoá, dịch vụ người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ phải nộp biên lai vào Ngân hàng đại lý để đòi tiền. Quá thời hạn quy định trên, Ngân hàng không nhận thanh toán; người tiếp nhận thanh toán, phải liên hệ với người sử dụng thẻ để lập hoá đơn mới thay thế hoá đơn quá hạn mang đến Ngân hàng thanh toán.
24.10. Trong phạm vi 1 ngày làm việc kể từ khi nhận được biên lai thanh toán hợp lệ (thực hiện đúng quy định của Ngân hàng phát hành thẻ), Ngân hàng đại lý phải thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ số tiền ghi trong các biên lai.
24.11. Cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ thực hiện không đúng quy định của Ngân hàng phát hành thẻ hoặc thanh toán các thẻ đã được Ngân hàng thông báo cấm lưu hành, sẽ phải chịu tổn thất.