vanban.org

Điều 19. Hỗ trợ khác — Quyết định 22/2015/QĐ-UBND

Kiên Giang Ban hành 17/06/2015 Hiệu lực 17/06/2015 Hết hiệu lực một phần 23 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 11 năm
Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND Ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang · 22/2015/QĐ-UBND
17/07/201818/2018/QĐ-UBNDSửa đổi, bổ sung Hiện hành 17/06/2015Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 22/2015/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Hỗ trợ khác

Các trường hợp hỗ trợ khác quy định tại Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ bao gồm:

1. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất quy định tại Khoản 2, Điều 5 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường bị thu hồi dưới 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng mà việc thu hồi ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người có đất bị thu hồi thì được hỗ trợ ổn định đời sống; đối tượng được hỗ trợ do Ủy ban nhân dân cấp xã xét duyệt và đề nghị. Mức hỗ trợ được tính bằng tiền cho một nhân khẩu tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ; thời gian hỗ trợ là 03 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và 06 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở.

2. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở mà không phải di chuyển chỗ ở (không có nhà) hoặc diện tích đất ở còn lại sau thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu của đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh mà không còn đất ở ở nơi khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi thì được hỗ trợ một suất tái định cư. Trường hợp nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu quy định tại Khoản 4, Điều 18 của Quy định này thì được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất. Trường hợp không nhận đất ở, nhà ở tại khu tái định cư mà tự lo chỗ ở thì được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư quy định tại Khoản 2, Điều 15 của Quy định này.

Sửa đổi bởi 18/2018/QĐ-UBND · hiệu lực 17/07/2018

3. Hộ gia đình, cá nhân cất nhà ở trên đất nông nghiệp; ở nhờ trên đất Nhà nước quản lý; người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước trước ngày công bố quy hoạch để thực hiện dự án khi bị giải tỏa mà không còn đất ở và không còn chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở nhờ, nơi sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước thì được bồi thường vật kiến trúc và được hỗ trợ một suất tái định cư. Trường hợp nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu quy định tại Khoản 4, Điều 18 của Quy định này thì được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu và số tiền được bồi thường, hỗ trợ. Trường hợp không nhận đất ở, nhà ở tại khu tái định cư mà tự lo chỗ ở thì được nhận khoản tiền hỗ trợ bằng 70% giá trị suất tái định cư quy định tại Khoản 2, Điều 15 của Quy định này

Khoản 4 Điều 19 đã bị bãi bỏ bởi 18/2018/QĐ-UBND, hiệu lực từ 17/07/2018. Xem nội dung trước khi bị bãi bỏ

5. Hộ gia đình, cá nhân buôn bán, kinh doanh mà không có đăng ký kinh doanh (được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận) khi Nhà nước thu hồi đất mà bị ngừng buôn bán, kinh doanh được hỗ trợ 2.000.000 đồng/hộ.

6. Hộ gia đình chính sách khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở thì ngoài các chính sách hỗ trợ được hưởng theo quy định còn được hỗ trợ thêm như sau:

a) Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, cán bộ cách mạng lão thành và tiền khởi nghĩa được hỗ trợ 8.000.000 đồng/hộ/lần;

b) Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có công giúp đỡ cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng được hỗ trợ 6.000.000 đồng/hộ/lần;

c) Trường hợp trong một hộ gia đình có nhiều đối tượng chính sách được hưởng thì chỉ tính một mức hỗ trợ của đối tượng có mức hỗ trợ cao nhất.

7. Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo (có sổ hộ nghèo, hộ cận nghèo), khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở thì ngoài các chính sách được hưởng theo quy định còn được hỗ trợ thêm như sau:

a) Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện hộ nghèo được hỗ trợ 10.000.000 đồng/hộ;

b) Hộ gia đình, cá nhân cận nghèo được hỗ trợ 5.000.000 đồng/hộ.

8. Trường hợp vừa là hộ gia đình chính sách vừa là hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo thì được hưởng một chính sách hỗ trợ cao nhất.

9. Hộ gia đình, cá nhân có mồ mả phải di dời, ngoài việc được bồi thường theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh về bồi thường di chuyển mồ mả còn được hỗ trợ một khoản tiền chi phí về đất để cải táng mồ mả. Trường hợp địa phương không có đất để bố trí thì được hỗ trợ bằng tiền cụ thể như sau:

a) Mồ mả tại các phường: 15.000.000 đồng/mộ;

b) Mồ mả tại các thị trấn: 10.000.000 đồng/mộ;

c) Mồ mả tại các xã: 7.000.000 đồng/mộ.

Sửa đổi bởi 18/2018/QĐ-UBND · hiệu lực 17/07/2018

10. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất thực hiện di dời và bàn giao đất thì được xét thưởng bằng tiền như sau:

a) Thưởng 01 triệu đồng trong trường hợp số tiền bồi thường, hỗ trợ dưới 20 triệu đồng.

b) Thưởng 02 triệu đồng trong trường hợp số tiền bồi thường, hỗ trợ từ 20 triệu đến dưới 50 triệu đồng.

c) Thưởng 03 triệu đồng trong trường hợp số tiền bồi thường, hỗ trợ từ 50 triệu đến dưới 100 triệu đồng.

d) Thưởng 05 triệu đồng trong trường hợp số tiền bồi thường, hỗ trợ từ 100 triệu đến dưới 200 triệu đồng.

đ) Thưởng 08 triệu đồng trong trường hợp số tiền bồi thường, hỗ trợ từ 200 triệu đồng trở lên.

Các trường hợp giao mặt bằng trước thời hạn theo quy định tại Khoản này phải được lập thành biên bản và có chữ ký của các bên giao, nhận theo quy định. Không xét thưởng đối với cơ quan Đảng, Đoàn thể, Nhà nước

Bổ sung bởi 18/2018/QĐ-UBND · hiệu lực 17/07/2018

11. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, có đầu tư và có thành quả lao động trên đất, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp mà hiện nay diện tích đất này vẫn được xác định giao cho tổ chức quản lý rừng sử dụng thì được xem xét bồi thường, hỗ trợ như sau:

a) Sử dụng đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày có quyết định giao đất cho tổ chức quản lý rừng sử dụng:

- Trường hợp không có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền được bồi thường theo quy định;

- Trường hợp có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền nhưng thực tế Nhà nước không quản lý mà người dân vẫn tiếp tục sử dụng được hỗ trợ bằng 100% giá trị quyền sử dụng đất theo hiện trạng của loại đất đang sử dụng.

b) Sử dụng đất từ ngày có quyết định giao đất cho tổ chức quản lý rừng sử dụng đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004:

- Trường hợp không có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền được hỗ trợ bằng 80% giá trị quyền sử dụng đất theo hiện trạng của loại đất đang sử dụng;

- Trường hợp có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền được hỗ trợ bằng 70% giá trị quyền sử dụng đất theo hiện trạng của loại đất đang sử dụng.

c) Sử dụng đất từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 được hỗ trợ bằng 40% giá trị quyền sử dụng đất theo hiện trạng của loại đất đang sử dụng.

d) Đối với trường hợp sử dụng đất quy định tại Điểm b Khoản này và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được xem xét bồi thường theo quy định.

đ) Các trường hợp sử dụng đất từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở về sau không được xem xét bồi thường, hỗ trợ.

e) Đối với cây trồng (hoa màu) trên đất được hỗ trợ bằng 100% giá trị tại thời điểm thu hồi đất.

g) Giá đất, giá cây trồng để tính hỗ trợ quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm c và Điểm e Khoản này tính theo bảng giá đất, giá cây trồng do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định. Diện tích hỗ trợ là diện tích thực tế của loại đất đang sử dụng bị thu hồi nhưng tối đa không quá 03 ha đối với đất nông nghiệp; không quá 300 m2 đối với đất ở tại nông thôn và không quá 200 m2 đối với đất ở tại đô thị