Điều 7. Quy định cụ thể khoản 1, khoản 3 Điều 9 Nghị định 47/2014/NĐ-CP.
1. Tỷ lệ phần trăm (%) theo giá trị hiện có của nhà, công trình quy định như sau:
- Đối với nhà, công trình có tỷ lệ % còn lại >90% thì tỷ lệ phần trăm (%) theo giá trị hiện có của nhà, công trình là 0%.
- Đối với nhà, công trình có tỷ lệ % còn lại >60% và ≤90% thì tỷ lệ phần trăm (%) theo giá trị hiện có của nhà, công trình là 10%.
- Đối với nhà, công trình có tỷ lệ % còn lại >30% và ≤60% thì tỷ lệ phần trăm (%) theo giá trị hiện có của nhà, công trình là 20%.
- Đối với nhà, công trình có tỷ lệ % còn lại ≤30% thì tỷ lệ phần trăm (%) theo giá trị hiện có của nhà, công trình là 30%.
2. Đối với nhà, công trình bị phá dỡ một phần (ranh giới giải tỏa cắt sàn và đà ở khoảng giữa hai cột chịu lực) thì được tính bồi thường thêm phần vật kiến trúc từ ranh giới giải tỏa vào đến cột chịu lực gần nhất của nhà, công trình kiến trúc. Ngoài ra, còn được hỗ trợ một phần kinh phí để sửa chữa, cải tạo cho phù hợp với công năng sử dụng và phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ. Mức hỗ trợ được tính trên cơ sở hồ sơ thiết kế và dự toán do đơn vị tư vấn lập và được cơ quan Nhà nước thẩm định.
3. Đối với nhà, công trình không có trong bảng đơn giá do UBND tỉnh ban hành tại thời điểm trình phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng có trách nhiệm, xây dựng đơn giá gửi Sở Tài chính chủ trì, phối hợp Sở Xây dựng thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt.
4. Đối với nhà ở, công trình có chi phí xây dựng lớn hơn đơn giá do tỉnh ban hành do mặt bằng xây dựng hoặc nguyên nhân khác thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng thuê đơn vị tư vấn đo vẽ hiện trạng, xác định giá trị thực tế xây dựng tại thời điểm bồi thường gửi Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp Sở Tài chính và các Sở, ngành có liên quan thẩm định, trình UBND tỉnh quyết định.