Điều 25. Quản lý các công trình xây dựng thuộc dự án
1. Việc khởi công xây dựng công trình chỉ được thực hiện khi đã hội đủ các yếu tố được quy định tại Điều 72 của Luật Xây dựng, bao gồm: Có mặt bằng xây dựng; có văn bản góp ý thiết kế cơ sở của cơ quan quản lý công trình chuyên ngành đạt yêu cầu (trường hợp công trình theo quy định phải lập dự án đầu tư); có thiết kế bản vẽ thi công đã được phê duyệt; có biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường; có hợp đồng xây dựng; có đủ nguồn vốn để thực hiện theo tiến độ đã được phê duyệt trong dự án.
2. Khi tiến hành xây dựng, chủ đầu tư xây dựng công trình (kể cả công trình xây dựng là nhà ở riêng lẻ, nhà ở liên kế) phải tuân thủ đúng theo nội dung của quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 được duyệt.
3. Đối với công trình xây dựng là nhà ở riêng lẻ, nhà ở liên kế:
Trường hợp thuộc dự án khu dân cư, khu tái định cư đã hoàn thành và đã nghiệm thu, chuyển giao về cho địa phương quản lý: Chủ đầu tư xây dựng công trình phải cung cấp hồ sơ thiết kế công trình và thông báo ngày khởi công xây dựng trước bảy (07) ngày cho Ủy ban nhân dân quận, huyện (hoặc Phòng Quản lý Đô thị quận, Phòng Công Thương huyện khi được Ủy ban nhân dân quận, huyện ủy quyền) nơi có dự án và Ban Quản lý Khu đô thị (trường hợp dự án thuộc khu đô thị mới Nam Cần Thơ) để kiểm tra sự phù hợp của hồ sơ thiết kế với các quy định về quy hoạch và xây dựng được duyệt và tiến hành định vị công trình trên thực địa.
4. Đối với các công trình không phải nhà ở riêng lẻ, nhà ở liên kế (như công trình đa chức năng, chung cư, công trình công cộng như trường học, bệnh viện…) mà theo quy định chỉ lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình: trước khi khởi công xây dựng tối thiểu là 10 ngày làm việc, Chủ đầu tư xây dựng công trình phải gửi hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công đến Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân quận, huyện (hoặc Phòng Quản lý Đô thị quận, Phòng Công thương huyện khi được Ủy ban nhân dân quận, huyện ủy quyền), Ban Quản lý Khu đô thị (trường hợp dự án thuộc Khu đô thị mới Nam Cần Thơ) nơi có dự án để theo dõi, quản lý. Các đơn vị nêu trên khi được cung cấp hồ sơ, trong vòng 05 ngày làm việc phải có ý kiến góp ý (nếu có), quá thời hạn nêu trên mà không có ý kiến thì xem như đồng ý.
5. Đối với các công trình không phải nhà ở riêng lẻ, nhà ở liên kế mà theo quy định phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình: Chủ đầu tư xây dựng công trình phải gửi hồ sơ dự án đầu tư và văn bản góp ý thiết kế cơ sở của cơ quan quản lý công trình chuyên ngành và chỉ được khởi công xây dựng công trình khi hồ sơ thiết kế cơ sở phù hợp với nội dung góp ý thiết kế cơ sở của cơ quan quản lý công trình chuyên ngành. Trước khi khởi công xây dựng tối thiểu 10 ngày, Chủ đầu tư phải gửi hồ sơ thiết kế kỹ thuật, hồ sơ dự án, văn bản góp ý thiết kế cơ sở của cơ quan quản lý công trình chuyên ngành đến Ủy ban nhân dân quận, huyện (hoặc Phòng Quản lý Đô thị quận, Phòng Công Thương huyện khi được Ủy ban nhân dân quận, huyện ủy quyền) nơi có dự án, Ban Quản lý Khu đô thị (trường hợp dự án thuộc Khu đô thị mới Nam Cần Thơ) để theo dõi, quản lý và định vị công trình xây dựng trên thực địa. Các đơn vị nêu trên khi được cung cấp hồ sơ, trong vòng bảy (07) ngày làm việc phải có ý kiến góp ý (nếu có), quá thời hạn nêu trên mà không có ý kiến thì xem như đồng ý.
6. Chủ đầu tư xây dựng công trình phải treo biển báo công khai các thông tin về công trình xây dựng tại công trường theo quy định tại Điều 74 của Luật Xây dựng, bao gồm:
- Tên chủ đầu tư xây dựng công trình, tổng vốn đầu tư, ngày khởi công, ngày hoàn thành;
- Tên đơn vị thi công, tên người chỉ huy trưởng công trình;
- Tên đơn vị thiết kế, tên chủ nhiệm thiết kế;
- Tên tổ chức hoặc người giám sát thi công xây dựng công trình;