Điều 15. Mối quan hệ công tác của Ban Chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức thuộc tỉnh
1. Với cấp ủy Đảng cùng cấp là quan hệ giữa lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo; dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, Ban Chỉ huy quân sự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các nghị quyết về công tác quốc phòng, quân sự và báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự với cấp ủy Đảng theo quy định.
2. Với người đứng đầu cơ quan, tổ chức là quan hệ giữa chỉ đạo, điều hành và chịu sự chỉ đạo, điều hành. Ban Chỉ huy quân sự nghiêm chỉnh chấp hành sự chỉ đạo, quản lý và điều hành của người đứng đầu cơ quan, tổ chức về thực hiện công tác quốc phòng, quân sự thuộc đơn vị mình; đồng thời đề xuất những biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự được giao.
3. Với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh: Ban Chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức chịu sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh về công tác quốc phòng, quân sự địa phương thuộc các lĩnh vực của cơ quan, tổ chức mình quản lý; đồng thời có mối quan hệ phối hợp, hiệp đồng về một số mặt công tác thuộc chức năng của cơ quan, tổ chức mình liên quan đến công tác quốc phòng như: Giáo dục quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ, phòng thủ dân sự; xây dựng tiềm lực chính trị, tiềm lực kinh tế, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
4. Đối với Ban Chỉ huy quân sự huyện nơi đặt trụ sở: Ban Chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức chịu sự chỉ đạo, chỉ huy của Ban Chỉ huy quân sự huyện về công tác xây dựng lực lượng tự vệ, công tác dự bị động viên và tuyển quân, về hoạt động chiến đấu - trị an khối cơ quan của cơ quan, tổ chức.
5. Với Ban Chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ngành dọc cấp trên (nếu có) là quan hệ cấp dưới với cấp trên, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác quốc phòng, quân sự và có trách nhiệm báo cáo theo quy định.
6. Với đơn vị tự vệ thuộc quyền là quan hệ giữa chỉ đạo, chỉ huy và phục tùng chỉ đạo, chỉ huy thực hiện nhiệm vụ.