vanban.org

Điều 8. Tổng giám đốc (Giám đốc) Ngân hàng, tuỳ theo tình hình thực tế về sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính và uy tín của từng doanh nghiệp, đặc biệt của vật tư hàng hoá nhập khẩu, quyết định áp dụng một hoặc nhiều biện pháp đảm bảo (ký quỹ, cầm cố, thế chấp tài sản, bảo lãnh) để đảm bảo thu hồi nợ. Chỉ áp dụng phương thức cầm cố bằng chính hàng nhập khẩu đối với những trường hợp được Thủ tướng Chính phủ cho phép. — Quyết định 207/QĐ-NH7

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/06/2001 Thay thế: 711/2001/QĐ-NHNN · 25/05/2001
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ban hành 01/07/1997 Hiệu lực 16/07/1997 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 2 phiên bản · 29 năm
Quyết định số 711/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm · 711/2001/QĐ-NHNN
Quyết định số 207/QĐ-NH7 Về việc ban hành Quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm 1997 · 207/QĐ-NH7
16/07/1997Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 207/QĐ-NH7 › Chương III › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Tổng giám đốc (Giám đốc) Ngân hàng, tuỳ theo tình hình thực tế về sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính và uy tín của từng doanh nghiệp, đặc biệt của vật tư hàng hoá nhập khẩu, quyết định áp dụng một hoặc nhiều biện pháp đảm bảo (ký quỹ, cầm cố, thế chấp tài sản, bảo lãnh) để đảm bảo thu hồi nợ. Chỉ áp dụng phương thức cầm cố bằng chính hàng nhập khẩu đối với những trường hợp được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

Riêng đối với các mặt hàng nằm trong danh mục Nhà nước hạn chế nhập khẩu (danh mục mặt hàng này hàng năm do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố), căn cứ tình hình cụ thể và chính sách nhập khẩu hàng hoá của Nhà nước, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định mức ký quỹ tối thiểu đối với từng thời kỳ. Mức ký quỹ trên mức tối thiểu nói tại điểm này do Tổng giám đốc (Giám đốc) Ngân hàng quyết định.