Điều 16. Ban đề thi
1. Ban đề thi do Chủ tịch Hội đồng thi thành lập gồm: Trưởng ban và các thành viên, trong đó có một thành viên kiêm Thư ký.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Trưởng ban đề thi
a) Tổ chức thực hiện việc xây dựng đề thi, câu hỏi thi theo quy định;
b) Tổ chức điều hành toàn bộ hoạt động của công tác xây dựng câu hỏi thi, ra đề thi; chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Hội đồng thi và trước pháp luật về công tác xây dựng câu hỏi thi, ra đề thi;
c) Bảo mật câu hỏi thi, đề thi theo chế độ tài liệu “Mật”.
3. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của thành viên Ban đề thi
a) Tham gia xây dựng câu hỏi thi, bộ đề thi theo phân công của Trưởng ban đề thi;
b) Bảo mật đề thi, câu hỏi thi theo chế độ tài liệu “Mật”.
4. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của thành viên kiêm Thư ký
Ghi biên bản các cuộc họp, hoạt động của Ban đề thi và thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công của Trưởng ban đề thi.
5. Tiêu chuẩn, điều kiện thành viên Ban đề thi
a) Người được cử làm thành viên Ban đề thi phải là người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực và phù hợp với yêu cầu của vị trí chức danh công chức cần tuyển. Thành viên Ban đề thi là công chức, viên chức của cơ quan có thẩm quyền tổ chức tuyển dụng công chức cấp xã hoặc là công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị khác do Chủ tịch Hội đồng xét tuyển quyết định;
b) Không cử làm thành viên Ban đề thi đối với những người có quan hệ là cha, mẹ, anh, chị, em ruột của bên vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ hoặc con nuôi của người dự thi hoặc những người đang trong thời gian bị xem xét xử lý kỷ luật hoặc đang thi hành quyết định kỷ luật;
c) Người được cử làm thành viên Ban đề thi không được tham gia làm thành viên Ban coi thi; Ban kiểm tra sát hạch.
6. Nguyên tắc làm việc của Ban đề thi
a) Mỗi thành viên của Ban đề thi phải chịu trách nhiệm cá nhân về nội dung, bảo đảm bí mật, an toàn của đề thi, câu hỏi thi theo đúng chức trách, nhiệm vụ của cá nhân được giao và theo nguyên tắc bảo vệ bí mật nhà nước;
b) Các thành viên của Ban đề thi làm việc độc lập và trực tiếp với Trưởng ban đề thi; người được giao thực hiện nhiệm vụ nào chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ đó, không được tham gia các nhiệm vụ khác của Ban đề thi trừ nhiệm vụ được Trưởng ban phân công.
7. Khu vực làm đề thi và các yêu cầu bảo mật
a) Đề thi, đáp án, hướng dẫn chấm điểm phục vụ riêng cho kỳ thi tuyển công chức cấp xã chưa công bố thuộc danh mục bí mật nhà nước độ “Mật”. Đề thi dự phòng chưa sử dụng được giải “Mật” ngay sau khi kết thúc kỳ thi;
b) Việc xây dựng đề thi, câu hỏi thi phải được thực hiện tại một địa điểm an toàn, biệt lập, phải được bảo vệ, có đầy đủ phương tiện bảo mật, phòng cháy, chữa cháy;
c) Danh sách những người tham gia Ban đề thi phải được giữ bí mật trong quá trình tổ chức kỳ thi. Các thành viên tham gia làm đề thi đều phải cách ly với bên ngoài từ thời điểm tập trung làm đề thi cho đến khi kết thúc môn thi đó. Trong trường hợp cần thiết, được sự đồng ý bằng văn bản của Trưởng ban đề thi thì các thành viên mới được phép ra ngoài hoặc liên hệ với bên ngoài bằng điện thoại cố định, khi nói chuyện phải bật loa ngoài, có ghi âm và dưới sự giám sát hoặc chứng kiến của thành viên Ban giám sát và của đại diện cơ quan công an (nếu được mời tham gia);
d) Phong bì đựng đề thi để giao, nhận, vận chuyển từ nơi làm đề thi ra bên ngoài phải được làm bằng giấy có đủ độ bền, kín, tối và được dán chặt, không bong mép, được niêm phong;
đ) Toàn bộ quá trình giao, nhận, vận chuyển đề thi phải được giám sát bởi thành viên Ban giám sát và của đại diện cơ quan công an (nếu được mời tham gia); các phong bì đựng đề thi phải được bảo quản trong thùng làm bằng kim loại có khóa và được niêm phong trong quá trình giao, nhận, vận chuyển;
e) Máy móc và thiết bị tại nơi làm đề thi dù bị hỏng hay không dùng đến, chỉ được đưa ra ngoài khu vực cách ly sau thời gian thi môn cuối cùng;
g) Thành viên Ban đề thi và những người khác có liên quan phải giữ bí mật tuyệt đối các đề thi và câu hỏi trắc nghiệm, phỏng vấn; không được phép công bố dưới bất kỳ hình thức nào cho đến khi kết thúc thời gian thi môn thi được phân công thực hiện.
8. Yêu cầu khi xây dựng đề thi
a) Yêu cầu chung:
- Đảm bảo chính xác, khoa học, lời văn, câu chữ rõ ràng;
- Phải phù hợp với yêu cầu của vị trí chức danh công chức cần tuyển;
- Đề thi phải có tính tư duy, suy luận, tổng hợp, phân tích, tránh việc học thuộc lòng;
- Đề thi phải ghi rõ số điểm của mỗi câu hỏi thi;
- Đề thi phải ghi rõ có chữ “HẾT” tại điểm kết thúc đề thi và phải ghi rõ có mấy trang (đối với đề thi có từ 02 trang trở lên);
- Mỗi môn thi hoặc phần thi trong cùng kỳ thi phải có đề thi chính thức, đề thi dự phòng và kèm theo đáp án, hướng dẫn chấm thi cụ thể. Đáp án, hướng dẫn chấm thi phải có thang điểm chi tiết đến 5 điểm.
b) Đối với đề thi viết:
Căn cứ vào yêu cầu của vị trí chức danh công chức cần tuyển, Ban đề thi có trách nhiệm soạn thảo câu hỏi, đáp án, hướng dẫn chấm điểm. Nội dung câu hỏi, đáp án, hướng dẫn chấm điểm sau khi soạn thảo được Trưởng ban đề thi tổ chức phản biện và đề xuất phương án chỉnh lý, sửa chữa (nếu thấy cần thiết). Việc phản biện câu hỏi, đáp án, hướng dẫn chấm điểm do các thành viên khác của Ban đề thi thực hiện. Sau khi đã tổ chức phản biện, Trưởng ban đề thi tổ chức rút ngẫu nhiên các câu hỏi để ghép thành các đề thi tự luận khác nhau (kèm theo đáp án, hướng dẫn chấm điểm tương ứng), bảo đảm có ít nhất 03 đề thi khác nhau, sau đó ký tên vào từng phiên bản đề thi, niêm phong và báo cáo Chủ tịch Hội đồng xem xét, quyết định đề thi chính thức và đề thi dự phòng.
c) Đối với đề thi trắc nghiệm trên giấy:
Việc xây dựng câu hỏi cho đề thi trắc nghiệm phải bảo đảm số lượng câu hỏi xây dựng gấp tối thiểu 3 lần so với số câu hỏi theo quy định của từng phần thi, môn thi. Trưởng ban đề thi tổ chức để các thành viên Ban đề thi thẩm định từng câu hỏi thi trắc nghiệm theo đúng yêu cầu của vị trí dự tuyển của chức danh công chức cần tuyển. Sau khi hiệu chỉnh lần cuối, Trưởng ban đề thi tổ chức rút ngẫu nhiên các câu hỏi để hình thành đề thi trắc nghiệm với nhiều phiên bản đề thi khác nhau. Sau khi rà soát từng phiên bản đề thi trắc nghiệm, Trưởng ban đề thi ký tên vào từng phiên bản đề thi, niêm phong và báo cáo cho Chủ tịch Hội đồng thi xem xét, quyết định đề thi chính thức và đề thi dự phòng.
d) Đối với đề thi trắc nghiệm trên máy:
- Chuẩn bị câu hỏi thi, đáp án để đưa vào ngân hàng câu hỏi thi trắc nghiệm trên máy vi tính theo đúng yêu cầu về số lượng, về thiết kế phần mềm thi trắc nghiệm trên máy vi tính;
- Câu hỏi thi và đáp án thi trắc nghiệm trên máy vi tính phải được mã hóa theo yêu cầu đặt ra của phần mềm thi trắc nghiệm trên máy vi tính;
- Chỉ đạo việc đánh máy vi tính, mã hóa, niêm phong, bảo quản và bảo mật ngân hàng câu hỏi trước khi bàn giao cho Hội đồng thi để tổ chức thi;
- Câu hỏi thi và đáp án cho mỗi phần thi trắc nghiệm trên máy vi tính phải bao quát được toàn bộ nội dung của vị trí việc làm tương ứng với chức danh công chức cần tuyển;
- Nội dung câu hỏi trong ngân hàng câu hỏi phải bảo đảm khoa học, chính xác, chặt chẽ, rõ ràng, mạch lạc, đúng văn phạm, có tính suy luận, phân tích, tránh việc học thuộc lòng.
đ) Đối với đề thi phỏng vấn:
- Đề thi phỏng vấn phải có nội dung hỏi đóng (kiểm tra kiến thức, trình độ) và nội dung hỏi mở (kiểm tra kỹ năng, khả năng). Đề thi phỏng vấn phải có đáp án, hướng dẫn chấm điểm. Đáp án, hướng dẫn chấm điểm phải có thang điểm chi tiết đến 5 điểm, được đóng trong phong bì, niêm phong và được bảo quản theo chế độ tài liệu “Mật”. Chủ tịch Hội đồng thi quyết định tỷ lệ điểm của nội dung hỏi đóng và nội dung hỏi mở khi phỏng vấn theo quy định;
- Trên cơ sở quyết định của Chủ tịch Hội đồng thi về tỷ lệ điểm giữa nội dung hỏi đóng và nội dung hỏi mở, Trưởng ban đề thi phân công các thành viên tổ chức xây dựng đề phỏng vấn bảo đảm phù hợp với tỷ lệ điểm, yêu cầu của vị trí chức danh công chức dự tuyển. Kết cấu, nội dung đề phỏng vấn phải bảo đảm chính xác, khoa học, đánh giá toàn diện về kiến thức, kỹ năng, trình độ và khả năng của người dự tuyển;
- Số lượng đề phỏng vấn do Chủ tịch Hồi đồng quyết định, được nhân bản bảo đảm nguyên tắc thí sinh đã rút ngẫu nhiên được đề thi nào thì không đưa đề thi đó vào để các thí sinh kế tiếp rút.