Điều 5. Bảo vệ bí mật nhà nước trong soạn thảo, in, sao, chụp tin, tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
1. Căn cứ danh mục bí mật nhà nước đã được cấp có thẩm quyền quyết định, khi soạn thảo văn bản có nội dung bí mật nhà nước, người soạn thảo phải đề xuất cụ thể độ mật của từng loại văn bản, lãnh đạo duyệt văn bản có trách nhiệm quyết định đóng dấu độ mật (Tuyệt mật, Tối mật, Mật), phạm vi lưu hành tài liệu (được ghi tại mục “Kính gửi” hoặc “Nơi nhận”), số lượng bản phát hành. Tài liệu nháp, dự thảo có nội dung bí mật nhà nước phải được quản lý chặt chẽ như văn bản chính thức và phải hủy bỏ ngay sau khi hoàn tất việc soạn thảo nếu thấy không cần thiết phải lưu giữ.
2. Thẩm quyền cho phép in, sao, chụp tin, tài liệu, vật mang bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền cho phép in, sao, chụp tin, tài liệu, vật mang bí mật nhà nước thuộc độ "Tuyệt mật", "Tối mật" và "Mật".
b) Thủ trưởng các sở, ban, ngành (hoặc tương đương) có thẩm quyền cho phép in, sao, chụp tin, tài liệu, vật mang bí mật nhà nước thuộc độ “Tối mật”, “Mật” thuộc lĩnh vực, chuyên môn phụ trách.
c) Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, địa phương ban hành văn bản có nội dung bí mật nhà nước được quyền cho in, sao những văn bản do đơn vị mình phát hành.
3. Việc in, sao, chụp, giải thích tin, tài liệu mật xong phải đóng dấu độ mật, dấu thu hồi (nếu cần), đánh số trang, số bản, số lượng in, phạm vi lưu hành, nơi nhận, tên người in, sao, chụp tài liệu.
4. Tin, tài liệu, vật mang bí mật nhà nước được in, sao, chụp phải được bảo mật như văn bản gốc; phải đóng dấu độ mật theo văn bản gốc, ghi rõ số lượng bản sao, in, nơi nhận, tên cơ quan sao, in; tên người sao, in và họ tên, chữ ký, chức vụ của thủ trưởng cơ quan cho phép sao, in; dấu của cơ quan, tổ chức, địa phương; những bản dư, thừa, hỏng phải hủy bỏ ngay.
5. Việc in ấn, sao, chụp và giao nhận điện mật được thực hiện theo quy định của pháp luật cơ yếu.