vanban.org

Điều 12. Tổ chức hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo. — Quyết định 20/2009/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/08/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/08/2014 Thay thế: 26/2014/QĐ-UBND · 05/08/2014
Hà Nam Ban hành 29/06/2009 Hiệu lực 09/07/2009 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 7 phiên bản · 17 năm
Quyết định số 52/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Hà Nam · 52/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 06/2018/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Hà Nam · 06/2018/QĐ-UBND
Quyết định số 26/2014/QĐ-UBND V/v ban hành Quy định quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Hà Nam · 26/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 20/2009/QĐ-UBND V/v ban hành Quy định quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Hà Nam · 20/2009/QĐ-UBND
15/08/201426/2014/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 09/07/2009Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 20/2009/QĐ-UBND › Chương II › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Tổ chức hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo.

1. Hội nghị, đại hội cấp Trung ương hoặc toàn đạo của tổ chức tôn giáo thực hiện theo quy định tại Điều 24 Nghị định 22/CP. Khi địa điểm tổ chức dự kiến đặt tại tỉnh, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị tới Uỷ ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nội vụ) trước khi gửi hồ sơ đến Ban Tôn giáo Chính phủ. Nội dung văn bản nêu rõ lý do tổ chức, dự kiến thành phần, số lượng người tham dự, danh sách khách mời, nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm, những điều kiện đảm bảo tổ chức hội nghị, đại hội.

2. Hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo cơ sở (hội nghị thường niên, đại hội) có phạm vi hoạt động từ 2 xã trong huyện trở lên, thực hiện theo Quy định tại điều 23 Nghị định 22/CP. Trước khi tổ chức hội nghị, đại hội, tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị trước 15 ngày đến Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra hội nghị, đại hội. Nội dung văn bản nêu rõ lý do tổ chức, dự kiến thành phần, số lượng người tham dự, danh sách khách mời, nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm, những điều kiện đảm bảo tổ chức hội nghị, đại hội. Đối với hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo cơ sở có phạm vi hoạt động trong một xã thì Uỷ ban nhân dân cấp huyện có thể uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét chấp thuận.

3. Hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, 2 Điều này, thực hiện theo quy định tại Điều 25 Nghị định 22/CP. Trước khi tổ chức hội nghị, đại hội, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Uỷ ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nội vụ). Trong thời gian 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định và trả lời bằng văn bản, trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

4. Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền giải quyết quy định tại khoản 2, 3 Điều này có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết việc chấp thuận hoặc không chấp thuận cho tổ chức tôn giáo và cho Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp nơi tổ chức tôn giáo xin tổ chức hội nghị, đại hội.