Điều 9. Căn cứ để xác định mức trợ cấp
1. Đối với các công ty nhà nước thực hiện sắp xếp lại, hoặc cơ cấu lại theo Điều 17 của Bộ luật Lao động, căn cứ vào ngày ghi trong quyết định cho người lao động nghỉ việc để xác định thời gian người lao động được hưởng trợ cấp trong các mẫu 7, 8, 9, 10, 10b ban hành kèm theo Thông tư 19/2004/TT-BLĐTBXH, mẫu số 1b, 1c ban hành kèm theo Thông tư số 73/2000/TTLT-BTCCBCP-BTC ngày 28/12/2000 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ và Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện chính sách tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp (gọi tắt là Thông tư số 73/2000/TTLT-BTCCBCP-BTC).
2. Đối với công ty cổ phần được chuyển đổi theo hình thức cổ phần hoá từ công ty nhà nước, đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty nhà nước, công ty thành viên hạch toán độc lập, đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc tổng công ty có phương án thực hiện cơ cấu lại theo Điều 17 của Bộ luật Lao động được cơ quan có thẩm quyền xác nhận trong vòng 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp:
2.1. Chế độ cho người lao động nghỉ hưu trước tuổi, người lao động đủ tuổi nghỉ hưu nhưng còn thiếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối đa 1 năm (tại các mẫu 7, 8 ban hành kèm theo Thông tư 19/2004/TT-BLĐTBXH) được tính đến thời điểm có quyết định cho người lao động nghỉ việc.
2.2. Chế độ cho người lao động bị mất việc, thôi việc (tại các mẫu 9, 10, 10b ban hành kèm theo Thông tư 19/2004/TT-BLĐTBXH) được tính đến ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.
3. Mức trợ cấp cho từng lao động xác định theo quy định tại Thông tư số 19/2004/TT-BLĐTBXH, trong đó thời gian tính trợ cấp là thời gian người lao động thực tế làm việc trong khu vực nhà nước (có đi làm, có tên trong bảng thanh toán lương).