Điều 18. Hao hụt tự nhiên
Tỷ lệ hao hụt tự nhiên dưới đây tạm thời áp dụng theo tỷ lệ quy định trong Hiệp định liên vận hàng hoá đường sắt quốc tế (SMGS) trong lúc chờ Nhà nước ban hành tỷ lệ hao hụt chính thức cho các loại hàng vận chuyển. Tuy nhiên, vì tình hình thời tiết và khí hậu vùng nhiệt đới của nước ta, tuỳ theo không gian và thời gian của quá trình vận chuyển, bên chủ hàng và bên vận tải có thể nâng lên hoặc hạ thấp tỷ lệ hao hụt dưới đây và ghi tỷ lệ thoả thuận vào hợp đồng kinh tế và giấy vận chuyển.
1- Hai phần trăm (2%) khối lượng đối với hàng chất lỏng, hoặc khi đưa đến nơi gửi để vận chuyển hàng còn ẩm ướt và những loại hàng sau đây:
- Quặng man-ga-ne,
- Ma-nhe-di-um,
2- Một phẩy năm phần trăm (1,5%) khối lượng đối với hàng hoá dưới đây:
- Củi, gỗ, vật liệu bằng gỗ tre, nứa, lá, than gỗ,
- Vật liệu xây dựng lấy từ khoáng sản,
- Dầu mỏ,
- Phân bón đóng bao.
3- Một phần trăm (1%) khối lượng đối với hàng hoá dưới đây:
- Nhiên liệu lấy ở mỏ,
- Than cốc có dầu hoả,
- Quặng sắt,
- Vỏ cây,
- Lông chưa rửa,
- Men rượu,
- Xà phòng,
- Rễ cây.
4. Không phảy năm phần trăm (0,5%) khối lượng đối với những hàng hoá khô khác trong khi vận chuyển bị hao hụt.
Phạm vi trách nhiệm quy định trên đây không được áp dụng nếu chứng minh được rằng việc khối lượng bị thiếu không phải do nguyên nhân hao hụt vì tính chất tự nhiên của hàng hoá gây nên.
Nếu hàng hoá bị mất toàn bộ hoặc bị mất một phần, khi tính tiền bồi thường thì không được trừ khối lượng bị hao hụt của những kiện hàng bị mất.