vanban.org

Điều 14. Kỳ hạn vận chuyển — Quyết định 195-PC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 11/02/1975 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Giao thông vận tải Ban hành 27/01/1975 Hiệu lực 11/02/1975 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 195-PC › Chương 2 › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Kỳ hạn vận chuyển

Kỳ hạn vận chuyển gồm:

1- Nhận chở hàng ở nơi đi: một ngày, tính từ 24 giờ của ngày nhận chở hàng, căn cứ vào ngày gửi trong giấy vận chuyển hoặc bản sao giấy vận chuyển đã giao lại cho người gửi hoặc người nhận hàng.

2- Mỗi lần thay đổi phương tiện vận tải đã được quy định trước trong cùng một ngành vận tải như sang toa, sang xe, sang mạn.... được tăng thêm:

a) Đường sông: 3 ngày

b) Đường sắt: 2 ngày,

c) ô tô: 1 ngày.

3- Mỗi nơi tiếp chuyển hàng hoá giữa hai phương thức vận tải được tăng thêm một số ngày do Bộ giao thông vận tải công bố, từng thời kỳ cho từng nơi tiếp chuyển.

4- Khi hàng hoá bị dừng lại ở dọc đường vì những nguyên nhân sau đây thì kỳ hạn vận chuyển chung được cộng thêm thời gian thực tế hàng hoá đã dừng lại.

a) Thời gian kiểm tra việc chấp hành luật lệ cảu Nhà nước đối với lo hàng vận chuyển như kiểm tra hàng cấm lưu thông.

b) Thời gian dừng lại do phải sử dụng phương tiện vận tải để vận chuyển đột xuất theo mệnh lệnh của chính quyền trong các trường hợp nói ở điều 7 của điều lệ này.

c) Thời gian dừng lại do biến cố, thiên tai, địch hoạ hoặc do tai nạn và những trở ngại khác không do lỗi của bên vận tải.

d) Thời gian dừng lại để làm việc thuộc trách nhiệm của chủ hàng như sửa chữa lại bao bì không tốt, hoặc thực hiện các yêu cầu đột xuất của chủ hàng đã được bên vận tải chấp nhận thực hiện.

Thời gian và nguyên nhân hàng hoá bị giữ lại dọc đường nói trên phải được bên vận tải ghi vào giấy vận chuyển hàng hoá và các bản sao của giấy ấy.

5- Thời gian vậnchuyển: tính theo kỳ hạn đã được quy định trong các điều lệ vận chuyển hàng hoá của mỗi ngành vận tải.

Kỳ hạn vận chuyển của một lô hàng (gửi theo một giấy vận chuyển ) kết thúc tính từ lúc bên vận tải sẵn sàng giao trả hàng hoặc tính từ lúc bên vận tải đã đưa phương tiện vận tải chở lô hàng ấy đến tại kho, bãi hay tại đường nhánh dùng riêng của chủ hàng.

Khi một lô hàng gửi theo một giấy vận chuyển phải thay phương thức vận tải (giao hàng từ một phương thức vận tải này qua một phương thức vận tải khác) để chuyển tiếp mà còn lại một phần của lô hàng ấy phải gưỉ bù tiếp theo thì kỳ hạn vận chuyển đến cho cả lô hàng sẽ được tính theo phần lô hàng đã chở đến trước theo giấy vận chuyển gốc. Phần hàng gửi bù, nếu gửi đến nơi đến chậm quá gấp đôi kỳ hạn vận chuyển của toàn bộ lô hàng âý thì bên vận tải phải chịu phạt về vận chuyển quá kỳ hạn cho phần lô hàng đến chậm.