vanban.org

Điều 4. Xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước — Quyết định 18/2021/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 25/05/2026 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 377/QĐ-UBND · 25/05/2026
Đồng Nai Ban hành 18/05/2021 Hiệu lực 31/05/2021 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 18/2021/QĐ-UBND › Chương II › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước

1. Người đứng đầu đơn vị, địa phương ban hành, phát hành tài liệu hoặc tạo ra vật chứa bí mật nhà nước có trách nhiệm xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước.

2. Việc xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước phải căn cứ vào danh mục bí mật nhà nước thuộc các lĩnh vực do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Trường hợp sử dụng bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức khác thì phải xác định độ mật tương ứng. Trường hợp thông tin trong cùng một tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước thuộc danh mục bí mật nhà nước có độ mật khác nhau thì xác định theo độ mật cao nhất.

3. Trình tự, thủ tục xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước

a) Thông tin, tài liệu có nội dung bí mật nhà nước phải được soạn thảo, lưu giữ trên máy tính không kết nối mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông (trừ trường hợp lưu giữ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về cơ yếu);

b) Tài liệu bí mật nhà nước phải thể hiện nơi nhận, số lượng bản phát hành, tên người soạn thảo, được phép hoặc không được phép sao, chụp ở mục nơi nhận của tài liệu;

c) Khi trình ký văn bản có nội dung bí mật nhà nước, người soạn thảo phải đề xuất người có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước tại Tờ trình, Phiếu duyệt ký văn bản; nội dung đề xuất gồm: Độ mật của bí mật nhà nước, nơi nhận, số lượng bản phát hành, được phép hoặc không được phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước và có trách nhiệm bảo vệ nội dung bí mật nhà nước trong quá trình soạn thảo, tạo ra; các bản dự thảo, chỉnh sửa sau khi hoàn chỉnh phải tiêu hủy ngay nếu xét thấy không cần thiết phải lưu giữ. Trường hợp văn bản điện tử, người soạn thảo phải tạo dấu chỉ độ mật trên văn bản sau khi được người có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước. Văn bản có nội dung bí mật nhà nước khi phát hành phải đóng dấu chỉ độ mật theo quy định;

d) Trường hợp người tiếp nhận thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, nhưng chưa được xác định là bí mật nhà nước phải báo cáo đề xuất ngay người đứng đầu đơn vị, địa phương để xác định hoặc chuyển đến đơn vị có chức năng xử lý. Người được giao xử lý phải có văn bản đề xuất người đứng đầu đơn vị, địa phương xác định bí mật nhà nước, nơi nhận, số lượng bản phát hành, được phép hoặc không được phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước. Thông tin tiếp nhận phải được bảo vệ trong quá trình tiếp nhận và xử lý.

4. Mẫu dấu chỉ độ mật, mẫu văn bản xác định độ mật của bí mật nhà nước thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ bí mật nhà nước.