Điều 14. Tiêu hủy tài liệu, vật chưa bí mật nhà nước
1. Căn cứ, yêu cầu về tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.
2. Thâm quyền tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; Giám đốc các sở, ban, ngành và tương đương có thẩm quyền quyết định tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.
b) Người đang quản lý tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước nếu không tiêu hủy ngay sẽ gây nguy hại cho lợi ích quốc gia, dân tộc được quyền quyết định tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước và phải báo cáo bằng văn bản về việc tiêu hủy với người đứng đầu đơn vị, địa phương.
3. Trường hợp tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước khi không cần thiết phải lưu giữ và việc tiêu hủy không gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.