Điều 8. Thẩm quyền công nhận danh hiệu thi đua và khen thưởng.
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xét, công nhận danh hiệu “Hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” cấp cơ sở và tặng Giấy khen theo quy định. Đồng thời xét, chọn những hộ xuất sắc, tiêu biểu đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện công nhận danh hiệu và khen thưởng. Tỷ lệ xét, chọn không quá 5% số hộ đạt danh hiệu “Hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” cấp cơ sở (Riêng đối với các xã miền núi, vùng sâu, vùng xã, biên giới, hải đảo số hộ được xét khen thưởng không quá 10% tổng số hộ đạt danh hiệu “Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” cấp cơ sở).
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xét, công nhận danh hiệu “Hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” cấp huyện và tặng Giấy khen kèm theo tiền thưởng theo quy định. Đồng thời xét, chọn những hộ xuất sắc, tiêu biểu đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận danh hiệu và khen thưởng. Tỷ lệ xét, chọn không quá 5% tổng số hộ đạt danh hiệu “Hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” cấp huyện.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xét, công nhận danh hiệu “Hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” cấp tỉnh và tặng Bằng khen kèm theo tiền thưởng theo quy định cho các hộ đạt thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi”. Tỷ lệ xét, chọn không quá 5% tổng số hộ đạt danh hiệu “Hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” cấp tỉnh.
4. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh xét, chọn các Hộ nông dân xuất sắc, tiêu biểu của tỉnh đề nghị Chính phủ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng.