Điều 6. Hạn mức công nhận đất ở
1. Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 mà trong hồ sơ địa chính hoặc các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì toàn bộ diện tích đất đó được xác định là đất ở theo quy định tại khoản 2 Điều 87 của Luật Đất đai.
2. Đối với trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 mà ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì diện tích đất ở được xác định như sau:
a) Các phường thuộc thành phố Mỹ Tho và thị xã Gò Công: diện tích đất ở được xác định bằng 02 (hai) lần hạn mức giao đất ở tối đa được quy định tại khoản 1 Điều 5 của Quyết định này.
b) Các thị trấn thuộc huyện: diện tích đất ở được xác định bằng 02 (hai) lần hạn mức giao đất ở tối đa được quy định tại khoản 2 Điều 5 của Quyết định này.
c) Các xã thuộc thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công và các xã thuộc huyện: diện tích đất ở được xác định bằng 02 (hai) lần hạn mức giao đất ở tối đa được quy định tại khoản 3 Điều 5 của Quyết định này.
d) Diện tích đất ở được công nhận tại điểm a, b, c khoản 2 Điều này không vượt quá diện tích đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng.
3. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở trên thửa đất có vườn, ao được xác định như sau:
a) Trường hợp số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình không quá 04 (nhân khẩu) thì hạn mức công nhận đất ở bằng hạn mức giao đất ở được quy định tại Điều 5 của Quy định này.
b) Trường hợp số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình lớn hơn 04 nhân khẩu thì từ nhân khẩu thứ 5 trở lên, cứ mỗi nhân khẩu được công nhận đất ở tăng thêm như sau:
- Các phường thuộc thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công: 30m2.
- Các thị trấn thuộc các huyện: 40m2.
- Các xã thuộc thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công và các xã thuộc huyện: 50m2.
c) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định này thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở.
d) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.
4. Việc xác định số lượng nhân khẩu trong hộ để tính hạn mức công nhận đất ở theo quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quyết định này chỉ áp dụng đối với những người có quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi con nuôi hợp pháp và quan hệ hôn nhân có tên trong sổ hộ khẩu tại thời điểm giao đất ở, công nhận đất ở.
5. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người đang sử dụng không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điều 5 của Quyết định này.
6. Đối với hộ gia đình, cá nhân (gọi tắt là người sử dụng đất) đã được công nhận đất ở (trong trường hợp thửa đất ở có vườn ao) trước ngày Nghị định số 181/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (ngày 16/11/2004), nhưng diện tích đất ở đã được xác định nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở được quy định tại Điều 6 của Quyết định này, nay nếu người sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất để xác định lại đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại Điều 6 của Quyết định này và điểm b khoản 1 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ, người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được xác định lại và diện tích đất ở ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.