Điều 2. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3
“2. Tỷ lệ quy đổi khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở được xác định như sau:
Tỷ lệ quy đổi bằng giá bồi thường của loại đất thu hồi chia cho giá đất tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi (hoặc giá của nhà ở khi bồi thường bằng nhà ở).
Trong đó:
Giá đất tính tiền bồi thường về đất của loại đất thu hồi theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị quyết số 254/2025/QH15.
Giá đất tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP.
Giá nhà ở do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trường hợp bố trí nhà ở tái định cư tại địa bàn cấp xã khác với nơi có đất thu hồi do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố quyết định.
(Ví dụ: thu hồi 3.000 m2 đất nông nghiệp, bồi thường bằng đất ở:
Đơn giá đất nông nghiệp 80.000 đồng/m2
Đơn giá đất ở tại nơi bồi thường bằng đất ở 10.000.000 đ/m2
0,008 (tỷ lệ quy đổi) x 3.000 m2 (diện tích thu hồi) = 24 m2 đất ở được bồi thường, nhỏ hơn diện tích tối thiểu của thửa đất ở (40 m2) nên không đủ điều kiện được bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác loại đất thu hồi).”.