Điều 7. Bồi thường, hỗ trợ do phải di dời mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất
Việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ di dời mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP của Chính phủ như sau:
1. Người có mồ mả phải di dời được bố trí đất và bồi thường chi phí di dời như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã bố trí quỹ đất trong các nghĩa trang theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương để di dời mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất;
b) Chi phí di dời mồ mả theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP của Chính phủ được bồi thường theo đơn giá xây dựng mới mồ mả cùng loại do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định. Trường hợp người có mồ mả tự thu xếp việc di dời mồ mả ra ngoài khu vực được bố trí thì được hỗ trợ thêm khoản tiền bằng 50% của chi phí di dời đến khu vực vị trí được bố trí theo quy định.
2. Việc di dời mồ mả
a) Hộ gia đình, cá nhân có mồ mả thực hiện di dời;
b) Trường hợp mồ mả trong phạm vi đất thu hồi phải di dời mà không có người thực hiện việc di dời theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP của Chính phủ thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có mồ mả tiến hành các thủ tục di dời mồ mả theo phong tục, tập quán tại địa phương; kinh phí di dời được tính trong kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất bảo đảm tiến độ thực hiện dự án.