Điều 14. Bố trí tái định cư theo quy định tại khoản 3, khoản 7, khoản 10 Điều 111 của Luật Đất đai
1. Việc bố trí tái đinh cư theo quy định tại khoản 3, khoản 7, khoản 10 Điều 111 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:
a) Giá bán nhà ở tái định cư quy định tại khoản 3 Điều 111 của Luật Đất đai:
Trường hợp bố trí bằng nhà ở tái định cư trong cùng địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi thì giá bán nhà ở tái định cư do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi quyết định.
Trường hợp bố trí tái định cư bằng nhà ở tái định cư khác địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi thì giá bán nhà ở tái định cư do Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân cấp xã nơi có đất thu hồi, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà ở tái định cư và các cơ quan có liên quan để tham mưu trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định phê duyệt theo quy định của pháp luật về nhà ở.
b) Người sử dụng đất thuộc trường hợp đủ điều kiện được giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư quy định tại khoản 4 Điều 111 của Luật Đất đai, điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP của Chính phủ mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu quy định tại điểm d khoản này thì được hỗ trợ khoản tiền chênh lệch giữa giá trị một suất tái định cư tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất. Cụ thể như sau:
Trường hợp nhận đất ở hoặc nhà ở tại khu tái định cư thì không phải nộp khoản tiền sử dụng đất ở hoặc tiền nhà ở chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu hoặc giá trị nhà ở tái định cư tối thiểu và số tiền bồi thường về đất. Trường hợp không có nhu cầu nhận đất ở hoặc nhà ở tại khu tái định cư thì được nhận hỗ trợ khoản tiền chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư hoặc nhà ở tái định cư tối thiểu theo quy định tại điểm d khoản này và số tiền bồi thường về đất. Số tiền bồi thường về đất để tính chênh lệch hỗ trợ, được tính trên tổng diện tích đất bị thu hồi theo phương án bồi thường của dự án đó, bao gồm cả diện tích đất ở thu hồi thêm (nếu có).
Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng (từ 02 cặp vợ chồng trở lên) hoặc hộ gia đình có từ 08 nhân khẩu trở lên cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở bị thu hồi trước ngày có thông báo thu hồi đất mà diện tích đất ở hoặc nhà ở tái định cư được giao bằng diện tích của một suất tái định cư tối thiểu không đủ chỗ ở riêng cho từng hộ gia đình thì được xem xét hỗ trợ để giao đất ở có thu tiền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở cho các hộ gia đình còn thiếu, như sau:
Ngoài lô đất ở hoặc nhà ở tái định cư được giao theo quy định, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ thẩm quyền, căn cứ quỹ đất ở của địa phương và hồ sơ của từng trường hợp cụ thể để xem xét giải quyết giao đất ở có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở theo giá quy định của Luật Nhà ở tại thời điểm quyết định giao đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở cho các hộ gia đình còn thiếu (trường hợp giải quyết giao thêm này không được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị một suất tái định cư được giao tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất nếu có như trường hợp đủ điều kiện tái định cư theo quy định).
Nhân khẩu quy định nêu trên xác định trong hộ gia đình theo quy định tại khoản 25 Điều 3 của Luật Đất đai.
c) Người có đất ở bị thu hồi để thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, trường hợp thu hồi đất ở để thực hiện các mục đích khác nếu tại khu vực thu hồi đất có quỹ đất, quỹ nhà tái định cư theo quy định tại khoản 7 Điều 111 của Luật Đất đai thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư tại chỗ. Trong thời gian chờ bố trí tái định cư tại chỗ, người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở, bàn giao đất thu hồi để Nhà nước hoàn thiện hạ tầng khu đất tái định cư hoặc hoàn thành nhà ở tái định cư bảo đảm đủ điều kiện giao đất ở, nhà ở tái định cư theo quy định; người bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở được bố trí tạm cư vào nhà ở tạm (không phải trả tiền thuê nhà), hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở (nếu không ở nhà tạm do Nhà nước bố trí) với mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ cụ thể do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét để giải quyết cho phù hợp với thực tế tại địa phương. Ưu tiên vị trí thuận lợi cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp với kinh doanh dịch vụ, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng. Cơ chế thưởng đối với người có đất thu hồi bàn giao mặt bằng trước thời hạn theo quy định được giải quyết bằng năm (05) triệu đồng.
d) Suất tái định cư tối thiểu thực hiện theo quy định tại khoản 8 Điều 111 của Luật Đất đai, khoản 1 Điều 24 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP của Chính phủ được quy định cụ thể trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa như sau:
Suất tái định cư tối thiểu là giá trị của một lô (thửa) đất ở tái định cư có diện tích nhỏ nhất hoặc có giá trị tính bằng tiền sử dụng đất thấp nhất trong khu tái định cư sẽ bố trí cho người sử dụng đất được giao đất tái định cư. Trường hợp bố trí tái định cư bằng nhà ở tái định cư thì suất tái định cư tối thiểu tính bằng căn hộ có diện tích tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà ở hoặc giá trị của nhà ở (căn hộ) tái định cư có giá trị tính bằng tiền thấp nhất tại khu nhà ở sẽ bố trí tái định cư.
Trường hợp trong khu tái định cư vừa có lô (thửa) đất có diện tích nhỏ nhất nhưng giá trị tính bằng tiền cao hơn so với lô (thửa) đất có diện tích không nhỏ nhất nhưng có giá trị tính bằng tiền thấp hơn lô (thửa) đất diện tích nhỏ nhất thì ưu tiên người được bố trí tái định cư quyền lựa chọn việc nhận lô (thửa) đất diện tích nhỏ nhất hoặc nhận lô (thửa) đất giá trị tính bằng tiền sử dụng đất thấp nhất làm căn cứ xác định suất tái định cư tối thiểu trong khu tái định cư đó. Việc giải quyết ưu tiên lựa chọn suất tái định cư tối thiểu này áp dụng cho cả trường hợp bố trí tái định cư bằng nhà ở tái định cư.
Trường hợp người được bố trí giao một lô đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư mà có diện tích lớn hơn hoặc có giá trị tính bằng tiền sử dụng đất lớn hơn so với suất tái định cư tối thiểu theo quy định trên, thì phải nộp Nhà nước khoản tiền vượt giá trị của một suất tái định cư tối thiểu theo quy định.
2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân tại khoản 4 Điều 111 của Luật Đất đai mà có diện tích đất ở bị thu hồi lớn: từ 300 m2 trở lên đối với các phường nội thành thành phố Nha Trang; từ 500 m2 trở lên đối với đô thị các huyện, thị xã, thành phố còn lại; từ 600 m2 trở lên đối với đất ở nông thôn thì ngoài lô đất ở tái định cư tại khoản 4 Điều 111 của Luật Đất đai, còn được giao thêm một lô đất ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư.