Điều 7. Lập dự án, công trình
Căn cứ chủ trương đầu tư hoặc danh mục dự án, công trình đã được duyệt, chủ đầu tư lập dự án theo quy định của Luật xây dựng và Nghị định số 59/2015/NĐ-CP và Nghị định số 42/2017/NĐ-CP về quản lý đầu tư xây dựng. Đối với các nhiệm vụ, đề tài của các đơn vị thực hiện theo ngành, lĩnh vực, ngoài việc lập dự án theo quy định nêu trên, còn phải lập dự án theo các văn bản quy định riêng của ngành, lĩnh vực. Trường hợp các cơ quan, đơn vị không có bộ phận nghiệp vụ có trình độ lập dự án, Báo cáo kinh tế kỹ thuật, thiết kế - dự toán công trình có thể đi thuê tư vấn để thực hiện. Kinh phí thuê tư vấn được lập trong dự toán và quyết toán theo quy định.
1. Dự án, công trình có tổng mức đầu tư dưới 500 triệu đồng: Chủ đầu tư lập thiết kế - dự toán hoặc đề cương, dự toán (đối với nhiệm vụ, đề tài) gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm định.
2. Dự án, công trình có tổng mức đầu tư từ 500 triệu đồng đến dưới 15 tỷ đồng: Chủ đầu tư lập báo cáo kinh tế kỹ thuật hoặc đề cương, dự toán (đối với nhiệm vụ, đề tài), trình Hội đồng thẩm định hoặc Sở chuyên ngành theo quy định của pháp luật (đối với dự án, công trình do cấp tỉnh quản lý); trình các Phòng, ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (đối với các dự án do cấp huyện quản lý) thẩm định.
3. Dự án, công trình có tổng mức đầu tư từ 15 tỷ đồng trở lên: Chủ đầu tư lập dự án đầu tư trình Hội đồng thẩm định hoặc Sở chuyên ngành theo quy định của pháp luật thẩm định.