Điều 10. Đổi tên thôn, tổ dân phố
1. Nguyên tắc, thẩm quyền quyết định đổi tên thôn, tổ dân phố
1.1. Việc đổi tên thôn, tổ dân phố đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý chính quyền cơ sở; tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong các hoạt động giao dịch kinh tế, văn hóa - xã hội; giáo dục truyền thống lịch sử - văn hóa dân tộc, nâng cao tình yêu quê hương, đất nước, nâng cao tình đoàn kết giữa các cộng đồng dân cư.
1.2. Không đổi tên thôn, tổ dân phố đã có tên gọi quen thuộc, đã gắn bó với lịch sử, văn hóa của địa phương và đã ăn sâu vào tiềm thức, tình cảm của nhân dân qua nhiều thế hệ. Trường hợp thôn, tổ dân phố đã có tên mà xét thấy không có ý nghĩa lịch sử - văn hóa, không phù hợp với thuần phong mỹ tục địa phương, không thuận lợi cho các hoạt động giao dịch trong đời sống xã hội, gây ảnh hưởng, tác động xấu trong xã hội thì xem xét đề nghị đổi tên thôn, tổ dân phố.
1.3. Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định chủ trương về việc đổi tên thôn, tổ dân phố. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định việc đổi tên thôn, tổ dân phố sau khi có Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.
2. Quy trình và hồ sơ đổi tên thôn, tổ dân phố
Căn cứ đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện giao Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Đề án đổi tên thôn, tổ dân phố. Nội dung chủ yếu của Đề án gồm:
a) Đặc điểm, thực trạng của thôn, tổ dân phố cần đổi tên;
b) Sự cần thiết phải đổi tên thôn, tổ dân phố;
c) Tên thôn cũ và dự kiến đổi tên thôn, tổ dân phố mới;
d) Tỷ lệ cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình nhất trí với việc đổi tên thôn, tổ dân phố;
đ) Đề xuất, kiến nghị.
Quy trình và hồ sơ đổi tên thôn, tổ dân phố được thực hiện theo quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 8 Quy chế này.