vanban.org

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung Quyết định số: 07/2008/QĐ-UBND ngày 17/4/2008 của UBND tỉnh như sau: — Quyết định 17/2008/QĐ-UBND

Điện Biên Ban hành 09/12/2008 Hiệu lực 09/12/2008 Hết hiệu lực một phần
Dòng đời phiên bản 4 phiên bản · 17 năm
Quyết định số 17/2008/QĐ-UBND V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án thủy điện Sơn La áp dụng trên địa bàn tỉnh Điện Biên theo Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ và trình tự lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư khi thực hiện dự án di dân tái định cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên · 17/2008/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 17/2008/QĐ-UBND › Điều 2
Đọc toàn văn

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung Quyết định số: 07/2008/QĐ-UBND ngày 17/4/2008 của UBND tỉnh như sau:

1. Bổ sung điểm 4, 5, 6, khoản 2, Điều 1 như sau:

“4.Việc bồi thường, hỗ trợ về đất đai trong trường hợp tách hộ đã được UBND tỉnh Điện Biên phê duyệt thì xử lý như sau:

Trường hợp đất đai bị thu hồi đã được đo đạc quy chủ trong diện tích đất đai của hộ tái định cư hợp pháp (bố mẹ) nay chuyển nhượng một phần cho hộ mới tách để sử dụng làm nhà ở, làm đất sản xuất thì việc chuyển nhượng đó không phát sinh tranh chấp về quyền sử dụng đất; phải được thực hiện nghĩa vụ thuế chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thuế hiện hành. Trường hợp đến thời điểm quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thì phải truy thu theo quy định hiện hành.

Việc xác định diện tích được công nhận là đất ở, đất sản xuất để tính bồi thường trong trường hợp tách hộ thực hiện theo quy định hiện hành của UBND tỉnh về tái định cư thủy điện Sơn La.

Bổ sung bởi 21/2012/QĐ-UBND · hiệu lực 15/09/2012

7. Bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất sản xuất nông nghiệp (trừ đất lúa ruộng) cho hộ tái định cư tại thị xã Mường Lay trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi không có quỹ đất sản xuất nông nghiệp giao mới tương ứng trên địa bàn thị xã Mường Lay như sau:
a) Bồi thường bằng tiền cho 100% diện tích đất sản xuất nông nghiệp đủ điều kiện bồi thường (trừ diện tích đất lúa ruộng) cho hộ tái định cư trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Việc bồi thường diện tích đất quy định nêu trên được thực hiện trên cơ sở đơn đề nghị của các hộ tái định cư được UBND cấp xã xác nhận, Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư thẩm định nhất trí; được UBND thị xã Mường Lay phê duyệt. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã chi trả bồi thường bằng tiền của các hộ tái định cư không được cân đối tính vào diện tích đất sẽ giao mới.b) Diện tích đất lúa ruộng bị thu hồi (đủ điều kiện bồi thường) của hộ gia đình, cá nhân chỉ được thanh toán bằng tiền sau khi được UBND thị xã Mường Lay giao đất ruộng mới và phê duyệt phương án đối trừ đất lúa ruộng theo quy định.

5. Trường hợp các hộ gia đình và hộ là cán bộ công chức nhà nước có hộ khẩu thường trú tại địa bàn thị xã Mường Lay; đang sử dụng đất có nhà ở trên đất đó, ổn định liên tục từ trước ngày 15/10/1993 đến khi có Quyết định thu hồi đất của UBND thị xã Mường Lay; mà đất đó có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng lại nhà ở của các hộ đã được các cơ quan bố trí đất để xây dựng nhà ở hoặc được bố trí nhà ở thuộc đất của cơ quan, tổ chức nhà nước được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận thì xử lý như sau:

a) Được bồi thường đối với diện tích đất có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng thực tế đang sử dụng; nhưng diện tích đất ở được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định tại Điều 3, Điều 4, Quyết định số: 01/2006/QĐ-UBND ngày 24/3/2006 của UBND tỉnh Điện Biên. Đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở trên cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư.

Trường hợp diện tích đất có nhà ở trên đất đó nhỏ hơn hạn mức giao đất ở thì toàn bộ diện tích đất đó được bồi thường là đất ở;

b) Trường hợp quy định tại điểm a, khoản 5 điều này nhưng sau thời điểm ngày 15/10/1993 thì áp dụng như trường hợp diện tích đất đang sử dụng là đất có nhà ở do mua nhà thanh lý để ở mà đất đó được sử dụng làm đất ở sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 được quy định tại điểm b, mục 5, khoản 1, Điều 1, Quyết định số: 07/2008/QĐ-UBND ngày 17/4/2008 của UBND tỉnh Điện Biên”.

c) Trường hợp diện tích đất đang sử dụng đất là đất do lấn, chiếm, đất sử dụng cho mục đích công cộng và các trường hợp khác đã có văn bản ngăn chặn, nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm thì không được xem xét bồi thường.

6. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp có nguyện vọng được nhận thanh toán tiền bồi thường phần diện tích đất nuôi trồng thủy sản (đất ao), đất lúa ruộng, đất màu bị thu hồi của hộ gia đình, cá nhân nằm trong khu vực cấp bách cần giải phóng mặt bằng để triển khai thực hiện các dự án thành phần phục vụ di dân, tái định cư thủy điện Sơn La trên địa bàn thị xã Mường Lay được quy định như sau:

a) Trường hợp các hộ nông nghiệp có nguyện vọng chuyển đổi sang hộ phi nông nghiệp thì được tính bồi thường và chi trả bằng tiền toàn bộ diện tích đất sản xuất nông nghiệp đó theo quy định bồi thường đất sản xuất nông nghiệp hiện hành.

b) Trường hợp đất nuôi trồng thủy sản (đất ao) của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp (hộ nông nghiệp) bị thu hồi nằm trong khu vực giải phóng mặt bằng xây dựng công trình thuộc dự án thủy điện Sơn La trên địa bàn thị xã Mường Lay theo tiến độ của UBND tỉnh thì được tính bồi thường và chi trả bằng tiền diện tích đất đó theo quy định bồi thường đất sản xuất nông nghiệp hiện hành.

c) Trường hợp đất lúa ruộng, đất màu của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp (hộ nông nghiệp) bị thu hồi nằm trong khu vực giải phóng mặt bằng xây dựng công trình thuộc dự án thủy điện Sơn La trên địa bàn thị xã Mường Lay theo tiến độ của UBND tỉnh thì được tính bồi thường và chi trả bằng tiền giá trị bồi thường đó theo quy định bồi thường đất sản xuất nông nghiệp hiện hành theo quy định sau:

- Diện tích được bồi thường để chi trả bằng tiền không vượt quá 30% diện tích đất lúa và đất màu hiện có của hộ gia đình, cá nhân.

- Trường hợp diện tích đất còn lại vượt quá 30% nhưng nằm trong diện tích phải giải phóng mặt bằng không được bồi thường bằng tiền diện tích đó được xác định để cân đối giao đất sản xuất tại nơi mới theo quy định hiện hành. Hộ gia đình, cá nhân phải có trách nhiệm thực hiện bàn giao mặt bằng diện tích này theo Quyết định thu hồi đất của UBND thị xã Mường Lay.

d) Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất lúa ruộng, đất nuôi trồng thủy sản quy định tại điểm b, c nêu trên nhưng không trực tiếp sản xuất nông nghiệp (hộ phi nông nghiệp) thì được bồi thường để chi trả bằng tiền diện tích bị thu hồi đó.

đ) Việc bồi thường diện tích đất quy định tại điểm a, b, c và d nêu trên được thực hiện trên cơ sở đơn đề nghị của hộ gia đình, cá nhân được UBND cấp xã xác nhận, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thẩm định, nhất trí; được UBND thị xã Mường Lay phê duyệt. Phần diện tích đã chi trả bồi thường bằng tiền hộ gia đình, cá nhân không được cân đối diện tích vào diện tích đất nông nghiệp tại khu vực đất sản xuất sẽ giao mới”.

2. Thay thế khoản 5, Điều 1 như sau:

“2. Xử lý trường hợp thực tế phát sinh về giao đất tái định cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên:

a) Chỉ xử lý chênh lệch giá trị đất nơi đi và nơi đến đối với diện tích đất ở được tính bồi thường bằng diện tích đất ở được giao tái định cư (đất đổi đất) theo quy định sau:

- Nếu giá trị đất ở được giao tại nơi tái định cư (nơi đến) thấp hơn giá trị đất ở được bồi thường thì hộ tái định cư được bồi thường phần giá trị chênh lệch. Nếu giá trị đất ở được giao tại nơi tái định cư (nơi đến) cao hơn giá trị đất ở được bồi thường thì hộ tái định cư không phải nộp bù phần giá trị chênh lệch phần diện tích đã xác định đó.

- Giá trị đất ở nơi đi (tính bằng tiền) = (diện tích đất ở được bồi thường) x (đơn giá đất nơi đi). Giá trị đất ở nơi đến (tính bằng tiền) = (diện tích đất ở được giao) x (đơn giá đất nơi đến).

- Diện tích đất ở được tính bồi thường: Là phần diện tích đất ở nằm trong diện tích bị thu hồi của hộ gia đình, cá nhân; được công nhận là đất ở; được tính bồi thường về đất ở trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại Quyết định số: 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số: 06/2007/QĐ-UBND ngày 22/6/2007 và Quyết định số: 07/2008/QĐ-UBND ngày 17/4/2008 của UBND tỉnh.

- Đơn giá đất nơi đi và nơi đến xác định theo bảng đơn giá đất do UBND tỉnh Quyết định và công bố áp dụng từ ngày 01 tháng 01 hàng năm tại địa bàn nơi có đất theo thời điểm tính bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Diện tích đất ở được giao tại nơi tái định cư thực hiện theo quy hoạch chi tiết khu, điểm tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

b) Trường hợp diện tích đất ở được giao tại nơi tái định cư (nơi đến) lớn hơn diện tích đất ở được tính bồi thường (nơi đi) thì phần diện tích chênh lệch tăng đó được xử lý như sau:

- Hộ gia đình, cá nhân được giao đất tái định cư phải nộp tiền sử dụng đất phần diện tích tăng đó theo đơn giá đất hiện hành tại nơi tái định cư. Trường hợp chưa có khả năng nộp tiền sử dụng đất thì được phép ghi nợ tiền sử dụng đất phần diện tích tăng đó theo quy định hiện hành.

- Miễn thu tiền sử dụng đất ở cho diện tích đất ở được giao tại nơi tái định cư (bao gồm cả phần diện tích đất ở chênh lệch tăng) cho các trường hợp sau đây:

+ Hộ đồng bào dân tộc (trừ dân tộc Kinh) ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc một trong các trường hợp: chưa có đất làm nhà ở; đang ở nhà mua thanh lý; đang đi thuê nhà để ở hoặc ở tạm nhà của các cơ quan nhà nước.

+ Hộ gia đình có vợ hoặc chồng là người dân tộc (trừ dân tộc Kinh) ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn hiện là công chức, viên chức, quân nhân đương chức hoặc đã nghỉ hưu.

+ Hộ gia đình bị mất đất ở phải di dời do thiên tai, lũ quét, sạt lở đất, không có giấy tờ chứng minh diện tích đất ở bị mất.

+ Hộ gia đình nghèo theo tiêu chí xác định hộ gia đình nghèo hiện hành của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội áp dụng trên địa bàn tỉnh Điện Biên.

+ Đối tượng quy định tại Quyết định số: 118/TTg ngày 27 tháng 2 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công với Cách mạng cải thiện nhà ở và Quyết định số: 20/2000/QĐ-TTg ngày 3 tháng 2 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người hoạt động Cách mạng từ trước Cách mạng Tháng tám năm 1945 cải thiện nhà ở.

+ Hộ gia đình không có đất ở, mà nhà ở gắn liền với thuyền đánh bắt thủy sản trên sông, hồ tại nơi cũ; có hộ khẩu thường trú hợp pháp tại khu vực phải di chuyển, khi di chuyển đến điểm tái định cư thì được giao đất ở tái định cư theo quy hoạch.

+ Hộ gia đình có hộ khẩu thường trú, đang sinh sống ổn định tại thị xã Mường Lay từ trước ngày 15/10/1993 hiện tại không có đất ở, nhà ở đang phải thuê nhà ở, ở nhờ, mượn nhà ở của các tổ chức, cá nhân tại thị xã Mường Lay.

- Giảm 50% tiền sử dụng đất ở cho diện tích đất ở được giao tại nơi tái định cư cho hộ gia đình có hộ khẩu thường trú, đang sinh sống ổn định tại thị xã Mường Lay sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 22/12/2004 (ngày Quyết định số: 196/2004/QĐ-TTg ngày 29/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành) không có đất ở, nhà ở; đang phải ở nhờ; mượn nhà ở của các tổ chức, cá nhân tại thị xã Mường Lay.

c) Trường hợp hộ gia đình tại thị xã Mường Lay không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a và b, khoản 2 Điều này; hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nhưng không được bồi thường về đất; hộ gia đình, cá nhân không thuộc đối tượng được giao đất tái định cư theo dự án tái định cư thủy điện Sơn La nhưng đang sinh sống ổn định tại thị xã Mường Lay; các hộ mới tách hộ không được công nhận là hộ tái định cư hợp pháp nhưng thực tế hộ gia đình, cá nhân đó không có nơi ở nào khác. Các trường hợp nói trên nếu có nhu cầu đất ở thì được xem xét giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại các khu, điểm tái định cư trên địa bàn tỉnh theo quy định hiện hành của UBND tỉnh. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nêu trên chưa có khả năng nộp tiền sử dụng đất thì được phép ghi nợ tiền sử dụng theo quy định hiện hành.

d) Đối với các hộ tái định cư phi nông nghiệp đủ điều kiện bồi thường về đất ở: Sau khi cân đối xử lý chênh lệch giá trị đất ở nơi đi và đất ở nơi đến; được hưởng bồi thường về đất (tính bằng tiền) cho phần diện tích không được xác định là đất ở trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Nếu diện tích đất được bồi thường (nơi đi) lớn hơn diện tích đất được giao (nơi đến) thì Phần diện tích đất còn lại được tính giá trị để bồi thường bằng tiền diện tích đó.

đ) Đối với hộ gia đình là cán bộ công chức thuộc các cơ quan của thị xã là người dân tộc thiểu số (hộ phi nông nghiệp) có nguyện vọng muốn được tái định cư tại khu vực bản thì được giao đất ở theo hạn mức giao đất và quy hoạch chi tiết đất ở đối với hộ nông nghiệp nhưng phải nộp tiền sử dụng đất phần diện tích tăng đó theo hạn mức đất giao cho hộ nông nghiệp và hộ phi nông nghiệp.

UBND thị xã Mường Lay căn cứ vào quy hoạch chi tiết khu tái định cư và quỹ đất hiện có để xem xét giao đất cho các đối tượng nêu trên theo nguyện vọng”.

e) Đối với các hộ gia đình đã chuyển công tác ra ngoài thị xã Mường Lay sau ngày 22/12/2004 đến các địa bàn khác trong tỉnh nhưng có đất ở bị thu hồi có nhà ở, tài sản trên đất tại thị xã Mường Lay thì được bồi thường đất đai, tài sản, vật kiến trúc trên đất đó theo quy định hiện hành.

Trường hợp các hộ chưa được Nhà nước giao đất ở tại nơi chuyển đến công tác; nếu có nguyện vọng nhận bồi thường đất ở bằng việc giao đất ở mới thì được giao đất ở tái định cư tại các điểm tái định cư thủy điện Sơn La theo quy định hiện hành của UBND tỉnh.

f) Công nhận diện tích đất ở theo thực tế đang sử dụng vào mục đích để ở và công trình phục vụ nhu cầu ở (gồm nhà ở, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh và công trình phục vụ nhu cầu ở khác) nhưng tối đa không quá 2 lần hạn mức giao đất hiện hành của UBND tỉnh (quy định tại Quyết định số 01/2006/QĐ-UBND ngày 24/3/2006 của UBND tỉnh) để tính bồi thường về đất ở đối với hộ đồng bào dân tộc đang sinh sống ổn định tại các bản của thị xã Mường Lay.

g) Đối với các thửa đất đất ao, đất lúa liền kề các phường của thị xã Mường Lay hoặc liền kề khu dân cư nông thôn tại xã Lay Nưa; khi được tính bồi thường theo quy định tại điểm 6, khoản 1 Điều 2 Quyết định số 17/2008/QĐ-UBND ngày 09/12/2008 của UBND tỉnh Điện Biên thì được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng mục đích sử dụng và được hỗ trợ bằng tiền, mức hỗ trợ bằng 30% giá đất ở liền kề tại nơi có đất bị thu hồi.

h) Hỗ trợ công khai hoang, cải tạo đất bằng 50% đơn giá đất nông nghiệp theo từng hạng đất cho các trường hợp sau đây:

- Đất nông nghiệp phát sinh sau thời điểm đo vẽ quy chủ;

- Đất đã đo vẽ quy chủ nhưng đến thời điểm lập phương án bồi thường không còn hiện trạng do lũ quét, sạt lở đất;

- Đất đang sử dụng là đất nông nghiệp có nguồn gốc đất của các cơ quan không sử dụng từ trước ngày 15/10/1993;

Diện tích được hỗ trợ cho từng hộ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp của tỉnh quy định tại điểm 2, khoản 2 Điều 1 Quyết định số 07/2008/QĐ-UBND ngày 17/4/2008 của UBND tỉnh.

3. Sửa đổi, bổ sung mục 7 Điều 1 như sau:

“a) Hộ tái định cư tại thị xã Mường Lay; tái định cư tại thành phố Điện Biên Phủ và tỉnh Lai Châu được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã giao lại đất cho chủ đầu tư tại nơi đi, nhưng tại nơi đến chưa bố trí đất ở tái định cư (chưa giao đất ở tái định cư tại thực địa, đã được giao đất tái định cư nhưng chưa xây dựng được nhà ở); phải tự khắc phục nơi ở tạm hoặc thuê nhà ở tạm thì được hỗ trợ một lần bằng tiền theo mức hỗ trợ như sau:

- Hộ có 1 người được hỗ trợ 5 triệu đồng;

- Hộ có từ người thứ 2 trở lên, mỗi người tăng thêm được hỗ trợ 1,5 triệu đồng.

Việc hỗ trợ nêu trên do UBND cấp huyện nơi có dân đi thực hiện chi trả. Việc xác nhận chưa giao đất ở tái định cư tại nơi đến do UBND cấp huyện nơi có dân đến thực hiện.

- Trường hợp các hộ tại khu tái định cư Nậm Cản-thị xã Mường Lay di chuyển đến tái định cư tại thành phố Điện Biên Phủ và tỉnh Lai Châu việc hỗ trợ tiền làm nhà tạm hoặc thuê nhà ở tạm được thực hiện như sau:

+ Được hỗ trợ theo mức quy định tại Quyết định số: 11/2008/QĐ-UBND ngày 30/6/2008 của UBND tỉnh về việc bổ sung Mục 7, Điều 1, Quyết định số: 07/2008/QĐ-UBND ngày 17/4/2008 của UBND tỉnh nếu trước ngày 31/12/2008 hộ tái định cư được giao đất tái định cư tại nơi đến.

+ Nếu sau ngày 31/12/2008 hộ tái định cư chưa được giao đất tái định cư tại nơi đến thì sẽ tính bù trừ tiền hỗ trợ theo mức quy định tại Quyết định số: 11/2008/QĐ-UBND ngày 30/6/2008 của UBND tỉnh và mức quy định tại Quyết định này. Nếu tiền hỗ trợ tính theo Quyết định này cao hơn tiền hỗ trợ tính theo Quyết định số 11/2008/QĐ-UBND ngày 30/6/2008 của UBND tỉnh thì hộ tái định cư được hưởng phần chênh lệch; nếu thấp hơn thì hộ tái định cư không phải nộp bù phần chênh lệch đó.

- Trường hợp các hộ tái định cư đã được nhận tiền hỗ trợ di chuyển tạm theo Mục 7, Điều 1, Quyết định số: 07/2008/QĐ-UBND ngày 17/4/2008 của UBND tỉnh; Quyết định số: 16/2008/QĐ-UBND ngày 19/11/2008 của UBND tỉnh về việc bổ sung mục 7, Điều 1 Quyết định số: 07/2008/QĐ-UBND ngày 17/4/2008 của UBND tỉnh Điện Biên được điều chỉnh theo mức quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 2 Quyết định này”.

a) Mỗi nhân khẩu hợp pháp của hộ tái định cư; hộ sở tại bị thu hồi đất ở, đất sản xuất được hỗ trợ lương thực bằng tiền có giá trị tương đương 20 kg gạo/người/tháng trong 02 năm (trừ đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 25 Quyết định 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ). Việc hỗ trợ thực hiện lần đầu tính cho 3 tháng; các lần sau tính 6 tháng một lần.

1. Hỗ trợ lương thực và hỗ trợ do chậm giao đất sản xuất:

a) Mỗi nhân khẩu hợp pháp của hộ tái định cư; hộ sở tại bị thu hồi đất ở, đất sản xuất được hỗ trợ lương thực bằng tiền có giá trị tương đương 20 kg gạo/người/tháng trong 02 năm (trừ đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 25 Quyết định số: 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ).

b) Hộ sở tại không bị thu hồi đất ở (không phải di chuyển chỗ ở) nhưng bị thu hồi đất sản xuất nếu được giao đất mới thì tuỳ theo diện tích đất thực tế bị thu hồi được hỗ trợ bằng tiền. Mức hỗ trợ cụ thể như sau:

- Hỗ trợ 2000 đồng/m2 đối với đất ruộng và đất ao;

- Hỗ trợ 1000 đồng/m2 đối với đất trồng cây lâu năm và đất trồng cây hàng năm khác ;

- Đất lâm nghiệp không được hỗ trợ.

Trường hợp chưa xác định rõ thời điểm giao đất sản xuất mới cho các hộ tái định cư. UBND cấp huyện Quyết định thời điểm thực hiện hỗ trợ lương thực (cho đối tượng và mức quy định tại điểm a và b nói trên) cho phù hợp (không nhất thiết kể từ ngày được giao đất sản xuất mới) nhằm hỗ trợ kịp thời, giải quyết khó khăn, đảm bảo cuộc sống cho các hộ tái định cư.

c) Hộ nông nghiệp sở tại chỉ bị thu hồi đất ở, không bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp phải di chuyển đến nơi ở mới; hộ tái định cư phi nông nghiệp không thuộc khoản 3, khoản 4, Điều 13, Quyết định số : 06/2007/QĐ-UBND ngày 22/6/2007 của UBND tỉnh Điện Biên được hỗ trợ 1 lần bằng 500.000 đồng/ khẩu sau khi đã đến nơi ở mới.

d) Hỗ trợ do chậm giao đất sản xuất phần diện tích đất sản xuất của các hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng làm hạn chế khả năng canh tác; bị ngừng sản xuất do thi công các công trình thuộc dự án thủy điện Sơn La trên địa bàn tỉnh. Việc hỗ trợ được tính thành tiền chi trả 01 lần; mức hỗ trợ cụ thể như sau:

- Hỗ trợ 2000 đồng/m2 đối với đất ruộng và đất ao;

- Hỗ trợ 1000 đồng/m2 đối với đất trồng cây lâu năm và đất trồng cây hàng năm khác;

- Đất lâm nghiệp không được hỗ trợ.

Tổng diện tích đất để tính hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân nêu trên theo diện tích đất thực tế thu hồi bị ảnh hưởng nhưng không vượt hạn mức giao đất sản xuất nông nghiệp hiện hành của tỉnh. UBND cấp huyện có trách nhiệm xác định cụ thể diện tích, loại đất bị ảnh hưởng của từng hộ để tính hỗ trợ. Không hỗ trợ diện tích đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường”.