Điều 2. Định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực
I. VỀ SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP
Nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 7%, trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung, chuyên canh, phù hợp với điều kiện sinh thái từng địa phương, nâng cao mức thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác gấp hơn 2,0 lần so với năm 2000.
1. Về sản xuất lương thực: Mức sản lượng khoảng 1,5 triệu tấn, tập trung phát triển ngô lai (nhất là giống ngô cao đạm), sắn cao sản, nhằm phát huy thế mạnh của vùng để giải quyết lương thực cho người và sản xuất thức ăn chăn nuôi và các ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu từ sắn.
a) Cây lúa: Tập trung áp dụng các biện pháp thâm canh và tăng tỷ lệ sử dụng giống lúa lai trên diện tích lúa hiện có, chỉ mở rộng diện tích lúa nước ở những nơi có điều kiện. Đặc biệt ưu tiên xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ để sản xuất lương thực tại chỗ cho đồng bào vùng sâu, vùng xa.
b) Cây màu: Tây Nguyên có nhiều tiềm năng để phát triển mạnh cây màu như: ngô, sắn. Cần hình thành vùng sản xuất ngô, nhất là ngô lai theo hướng tập trung, chuyên canh đến năm 2005 đạt sản lượng khoảng 1,0 triệu tấn/năm. Hình thành vùng sắn tập trung ở nơi có điều kiện, bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến từ nguyên liệu sắn.
2. Về cây công nghiệp:
a) Cây cà phê: Không mở thêm diện tích trồng mới, chuyển diện tích cà phê già cỗi, xấu không có khả năng giải quyết nước tưới sang trồng cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn. Chuyển một phần diện tích cà phê vối sang cà phê chè ở nơi có điều kiện. Tập trung thâm canh, cải tạo giống trên diện tích còn lại. Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên rà soát lại diện tích cà phê hiện có, xây dựng cơ chế chính sách, hướng dẫn cụ thể việc giảm, chuyển diện tích cà phê sang trồng cây trồng khác.
Tổng công ty Cà phê Việt Nam, các tỉnh Tây Nguyên đến năm 2005 hoàn thành việc đầu tư các cơ sở chế biến (thô, tinh), cơ sở sau thu hoạch như sân phơi, sấy,... nhằm nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn và sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới.
b) Cây cao su: Chỉ tiếp tục trồng mới theo quy hoạch của dự án vay vốn AFD trong các công ty cao su quốc doanh và cao su tiểu điền vay vốn dự án WB (dự án đa dạng hóa nông nghiệp), ưu tiên trồng ở vùng biên giới. Tiếp tục đầu tư, thâm canh diện tích hiện có. Đến năm 2005 có khoảng 120.000 ha.
Tổng công ty Cao su Việt Nam, các tỉnh Tây Nguyên phải hoàn thành việc đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến (sơ chế cao su) và điều chỉnh cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường để sau năm 2010 hình thành ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ mủ cao su.
c) Cây chè: Tập trung thâm canh diện tích chè hiện có, chỉ trồng mới ở những nơi có điều kiện, chủ yếu ở Lâm Đồng. Thay thế dần giống chè hiện có bằng giống chè mới có năng suất và chất lượng phù hợp với thị trường trong nước và ngoài nước. Đến năm 2005 diện tích đạt khoảng 23.000 ha. Tiếp tục đầu tư xây dựng mới và cải tạo nâng cấp các cơ sở chế biến, nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, tính cạnh tranh trên thị trường.
đ) Cây điều: Mục tiêu đến năm 2005 có diện tích khoảng 31.000 ha và sau đó nâng lên khoảng 60.000 ha, trên cơ sở cải tạo vườn điều cũ và mở thêm diện tích mới ở vùng đất thích hợp, trồng điều thâm canh, với giống điều có năng suất cao, chất lượng tốt để đạt sản lượng trên 30.000 tấn nhân/năm. Đầu tư xây dựng cơ sở chế biến nhân hạt điều phù hợp với vùng nguyên liệu tại chỗ, nhằm giải quyết thêm việc làm cho dân.
đ) Cây mía: Tiếp tục mở thêm diện tích trồng mới bảo đảm đủ nguyên liệu mía cho các nhà máy đường hiện có. Thực hiện biện pháp thâm canh, nâng tỷ lệ diện tích trồng giống mía mới có năng suất và tỷ lệ đường cao, mở rộng diện tích mía có tưới ở nơi có công trình thủy lợi.
e) Cây bông: Cần phát triển nhanh cây bông để thay thế nguyên liệu nhập khẩu. Phát triển bông gắn với việc đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi như Easuốp thượng, Easuốp hạ, Ia Lâu, Ia Mơ, để hình thành vùng chuyên canh tập trung và được thâm canh cao. Phấn đấu đến năm 2005 đạt khoảng 25.000 ha và sau đó nâng dần lên trên 50.000 ha, sử dụng rộng rãi giống bông lai có năng suất cao, chất lượng xơ tốt, có thu nhập cao trên một đơn vị diện tích.
g) Cây dâu tằm: Tập trung khôi phục lại vùng trồng dâu, nuôi tằm ở Lâm Đồng. Sau năm 2005 về cơ bản đảm bảo nguyên liệu cho các nhà máy ươm tơ, dệt lụa đã đầu tư ở vùng. Giữ diện tích khoảng 5.000 ha, áp dụng các biện pháp tiến bộ để nâng cao năng suất dâu, đạt sản lượng kén tằm khoảng 2.000 tấn.
h) Cây tiêu: Vẫn là cây trồng có giá trị kinh tế cao ở Tây Nguyên, trong những năm qua phát triển nhanh, hình thành vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh tập trung cao, cần tập trung thâm canh, nâng cao chất lượng số hồ tiêu hiện có.
i) Cây thuốc lá: Trồng ở nơi có điều kiện thuận lợi, với các giống có năng suất và chất lượng cao phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của thị trường, vừa bảo đảm cung cấp đủ nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất thuốc lá, vừa có thể xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá.
3. Rau, hoa, quả và các loại cây khác:
a) Về rau, hoa: Chủ yếu trồng ở tỉnh Lâm Đồng, phải hình thành được vùng sản xuất chuyên canh tập trung theo hướng sản xuất công nghiệp với công nghệ tiên tiến tạo ra loại rau, hoa cao cấp đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm để xuất khẩu (đặc biệt là hoa tươi xuất khẩu) và phục vụ nhu cầu trong nước. Đến năm 2005 đạt khoảng 30.000 ha, trong đó khoảng 500-600 ha trồng hoa.
b) Về cây ăn quả: Phát triển các loại cây ăn quả có thị trường tiêu thụ và phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu và đất đai của vùng.
c) Cây thực phẩm: Phát huy lợi thế của Tây Nguyên để phát triển mạnh cây đậu tương và các loại đậu đỗ khác. Hình thành vùng chuyên canh tập trung sản xuất hàng hóa, gắn với cơ sở chế biến tại chỗ. Đến năm 2005 có khoảng 100.000 ha.
d) Cây dược liệu: Tiếp tục mở rộng diện tích ở Kon Tum, Đà Lạt và những nơi có điều kiện. Bảo vệ vùng cây dược liệu quý ở Kon Tum.
4. Chăn nuôi và thủy sản: Tây Nguyên có nhiều tiềm năng và thế mạnh hơn hẳn các vùng khác của cả nước để phát triển chăn nuôi gia súc lớn theo hướng sản xuất hàng hóa, chất lượng cao, nhất là bò thịt, bò sữa. Triển khai các dự án phát triển chăn nuôi bò thịt chất lượng cao ở Đắc Lắc bảo đảm cung cấp thịt chất lượng cao cho các khu đô thị và khu công nghiệp. Từng bước phát triển chăn nuôi bò sữa ở các tỉnh gắn với việc đầu tư cơ sở chế biến sữa. Đến năm 2005 đạt khoảng 700 ngàn con bò: trong đó có 5.000 bò sữa. Việc phát triển chăn nuôi ở Tây Nguyên theo hướng phát triển hộ gia đình và trang trại là chính, các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã làm dịch vụ về giống, thú y, khuyến nông, tiêu thụ sản phẩm và chế biến các sản phẩm chăn nuôi. Phát triển nuôi thủy sản nước ngọt, nhất là ở các hồ chứa để có thêm sản phẩm cung cấp cho thị trường tại chỗ.
5. Lâm nghiệp: Phát triển mạnh lâm nghiệp ở Tây Nguyên là nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, nâng độ che phủ lên 65%, nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn nước và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hình thành vùng nguyên liệu chính cho công nghiệp giấy, gỗ ván nhân tạo, chế biến đồ gỗ xuất khẩu và gia dụng, góp phần tăng thu nhập, giải quyết việc làm.
a) Tiếp tục thực hiện tốt việc bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng hiện có, bao gồm: rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, có biện pháp nghiêm ngặt bảo vệ rừng tự nhiên.
b) Tập trung trồng rừng kinh tế, hình thành vùng nguyên liệu gắn với cơ sở chế biến giấy, bột giấy, ván dăm, ván nhân tạo, đồ gỗ gia dụng,...
Phấn đấu đến sau năm 2005 trồng mới ít nhất 200.000 ha với các loại cây trồng như: keo bạch đàn, keo lai, thông, tre,... bảo đảm đủ nguyên liệu cho nhu cầu chế biến các sản phẩm từ gỗ.
Trước mắt, phải bảo đảm cung cấp đủ nguyên liệu cho Nhà máy MDF Gia Lai, Nhà máy Bột giấy ở Kon Tum, Lâm Đồng và ở những nơi khác có điều kiện để hướng tới sản lượng bột giấy và giấy đạt khoảng 1,0 triệu tấn/năm, sản lượng ván nhân tạo các loại khoảng 500.000 m3/năm.
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lai tạo giống theo phương thức mô hom, để phát triển nhanh các loại cây có độ tăng trưởng nhanh (khoảng trên 20-30 m3/ha/năm trở lên), có hiệu quả cao.
c) Phát triển mạnh việc trồng cây lấy gỗ lớn ở những nơi có điều kiện để cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng bao gồm cây lấy gỗ lớn mọc nhanh và một số loài gỗ quý hiếm (giáng hương, gõ, sao, dầu,...).
d) Từng bước giao khoán diện tích rừng tự nhiên cho hộ gia đình, cộng đồng (buôn, bản, làng, xã) quản lý, bảo vệ theo quy ước của cộng đồng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong quý 3 năm 2001 trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách quyền hưởng lời, nghĩa vụ khi được giao, thuê, khoán rừng và đất lâm nghiệp để khuyến khích người trồng rừng, quản lý và bảo vệ rừng.
đ) Thực hiện nghiêm ngặt việc khai thác gỗ theo đúng kế hoạch, quy trình quy phạm, khai thác các đặc sản dưới tán rừng, kết hợp với phát triển công nghiệp rừng để tăng giá trị sử dụng tài nguyên rừng. Gắn việc khoanh nuôi bảo vệ rừng với du lịch sinh thái dưới tán rừng. Hướng dẫn việc tiêu dùng đồ gia dụng gia đình, thay việc xây dựng từ gỗ rừng bằng vật liệu khác; khuyến khích việc thay thế sử dụng chất đốt từ gỗ cho sinh hoạt và sản xuất vật liệu bằng nguồn chất đốt khác. Hạn chế tiến tới chấm dứt việc chặt phá rừng làm nương rẫy và săn bắt thú rừng theo quy định của pháp luật. Với rừng tự nhiên không cho phép khai thác được chuyển thành rừng đặc dụng để được bảo vệ nghiêm ngặt.
II.VỀ CÔNG NGHIỆP
Mục tiêu phát triển công nghiệp ở Tây Nguyên chủ yếu là công nghiệp hóa nông, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông, lâm sản, công nghiệp thủy điện và công nghiệp khai khoáng.
1. Công nghiệp chế biến: Tập trung ưu tiên hoàn thành việc đầu tư mới và nâng cấp các cơ sở chế biến nông lâm sản theo quy hoạch để sau năm 2005 về cơ bản đầu tư xong cơ sở chế biến nông, lâm sản và công nghệ sau thu hoạch, trước hết là công nghiệp chế biến chè, cà phê, chế biến hoa quả và các ngành chế biến sâu sử dụng nguyên liệu là nông, lâm sản gồm: công nghiệp giấy, sản xuất gỗ, cao su, công nghiệp dệt,...
Trước mắt phải:
Hoàn thành việc xây dựng Nhà máy Bột giấy Kon Tum công suất 130.000 tấn/năm, Nhà máy Bột giấy ở Lâm Đồng công suất 150.000 tấn/năm và một số nhà máy giấy ở tỉnh khác.
Hoàn thành Nhà máy Gỗ ván MDF Gia Lai công suất 54.000 m3/năm đúng tiến độ gắn với vùng gỗ nguyên liệu và tiếp tục phát triển các cơ sở chế biến đồ gỗ trên địa bàn.
Đầu tư mới cơ sở chế biến bông xơ, kéo sợi ở vùng trồng bông tập trung quy mô lớn, từng bước hình thành cơ sở may mặc hoặc gia công may mặc để giải quyết việc làm và tham gia xuất khẩu. Khai thác sử dụng hết công suất các cơ sở ươm tơ, dệt lụa đã đầu tư trên địa bàn để nâng cao số lượng và chất lượng hàng tơ tằm xuất khẩu. Khôi phục lại nghề dệt vải truyền thống trong dân, đặc biệt vùng đồng bào dân tộc.
Ngành chế biến nông, lâm sản phải trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và được ưu tiên áp dụng công nghệ tiên tiến và hiện đại để có sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
2. Công nghiệp thủy điện: Tây Nguyên có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp thủy điện có thể đạt đến công suất 2.383MW, sản lượng điện đạt 12,7 tỷ KWh/năm, tiềm năng thủy điện nhỏ có thể đạt khoảng 1,5 tỷ KWh/năm.
Hoàn thành các công trình thủy điện: Hàm Thuận Đa Mi để phát điện vào đầu năm 2002, thủy điện Ialy hòa điện tổ máy còn lại vào cuối năm 2001.
Hoàn thành lập dự án khả thi đầu tư các công trình thủy điện thuộc hệ thống sông Đồng Nai (thượng nguồn thuộc tỉnh Lâm Đồng), hệ thống sông Sê San thuộc các tỉnh Gia Lai, Kon Tum phù hợp với tổng sơ đồ phát triển điện thời kỳ 2001-2010 và có tính đến năm 2020. Cải tạo lưới điện cho 4 thành phố và thị xã, xây đựng thêm đường dây 500 KV thứ 2 Pleiku - Buôn Mê Thuột - Di Linh - Phú Lâm; xây dựng đường điện 110 KV tới các huyện Ma Đrắc, Đắc Min (Đắc Lắc).
Tiếp tục nghiên cứu đầu tư những công trình thủy lợi gắn với thủy điện; ưu tiên đầu tư thủy điện nhỏ ở vùng có điều kiện. Xây dựng xong đường điện đến 142 xã hiện chưa có điện đến trung tâm xã, đến năm 2005 đảm bảo trên 70% số hộ dân cư được dùng điện.
3. Công nghiệp khai khoáng và hóa chất: Trên cơ sở cân nhắc hiệu quả kinh tế và khả năng nguồn vốn, sẽ xây dựng các nhà máy khai thác quặng bauxit và luyện nhôm ở Lâm Đồng và Đắc Lắc. Mở rộng quy mô dự án khai thác các loại khoáng sản thiếc, vàng, đá quý và các loại vật liệu xây dựng tại địa phương. Xây dựng nhà máy chế biến phân hỗn hợp NPK ở Đắc Lắc.
4. Công nghiệp cơ khí, tiểu thủ công nghiệp: Tổ chức lại sản xuất ngành cơ khí, đổi mới thiết bị đầu tư chiều sâu ở những cơ sở cơ khí hiện có. Trước hết tăng năng lực ngành cơ khí sửa chữa, sản xuất sản phẩm cơ khí nhỏ phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp tại chỗ và chế biến nông sản. Khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp ở khu vực thành thị và nông thôn, nhất là trung tâm cụm xã có điều kiện.
5. Xây dựng các khu công nghiệp: Hoàn thành thủ tục triển khai khu công nghiệp Trà Đa, chuẩn bị điều kiện để xây dựng với quy mô thích hợp khi có nhu cầu các khu công nghiệp: Tâm Thắng, Cư Jút (Đắc Lắc), Chưpah (Gia Lai), Hòa Bình (Kon Tum), Bảo Lộc (Lâm Đồng), v.v...
III. THƯƠNG MẠI, DU LỊCH, DỊCH VỤ
Phát triển ngành thương mại, du lịch, dịch vụ tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế toàn vùng nhằm phát huy lợi thế, thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đề ra, với nhịp độ tăng trưởng 12%/năm.
1. Phát triển mạng lưới kinh doanh thương mại đa dạng, phù hợp với địa bàn Tây Nguyên, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lưu thông hàng hóa, nhằm tạo động lực cho sản xuất phát triển. Xây dựng các trung tâm thương mại ở đô thị cấp tỉnh và một số huyện trọng điểm. Tổ chức tốt mạng lưới thương mại từ tỉnh, huyện đến xã để lưu thông hàng hóa thông suốt theo quy định tại Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Chính phủ về việc triển khai thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc. Đến năm 2005 hoàn thành việc xây dựng các chợ và cửa hàng tại các trung tâm cụm xã.
Đầu tư, xây dựng các cửa khẩu, chợ biên giới và khu kinh tế cửa khẩu để tăng cường các hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa với Lào, Cămpuchia.
Hoàn thành việc đầu tư xây dựng một số trung tâm thương mại cửa khẩu trong vùng.
2. Tập trung đầu tư theo chiều sâu các trung tâm du lịch hiện có, lựa chọn đầu tư mới ở những nơi có điều kiện theo các hình thức du lịch phong phú, đa dạng như: sinh thái, văn hóa, lịch sử...
Hình thành các tuyến du lịch nội vùng và liên vùng, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch phù hợp với đặc thù của Tây Nguyên, gắn với du lịch ở các tỉnh ven biển miền Trung và Đông Nam Bộ.
IV. VỀ GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO, Y TẾ, VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI
1. Về giáo dục, đào tạo: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện bậc phổ thông, từng bước tiếp cận trình độ chuẩn của cả nước. Củng cố thành quả phổ cập tiểu học, tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường. Phấn đấu đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở cho toàn vùng vào năm 2010.
Đầu tư xây dựng đủ phòng học kiên cố và bán kiên cố cho các cấp học trong đó có khoảng 50% trường học được trang bị các đồ dùng dạy học, thí nghiệm, thư viện, sân chơi và khu thể thao theo chuẩn tối thiểu; 80 - 90% các trường có trang thiết bị đạt chuẩn vào năm 2010. Hoàn thành xây dựng trường phổ thông dân tộc nội trú cho tất cả các huyện, tăng cường cơ sở vật chất cho các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh.
Phát triển các trường bán trú, các trường nuôi dưỡng trẻ em khuyết tật ở các tỉnh. Củng cố và phát triển các cơ sở nhà trẻ, mẫu giáo. Tập trung đầu tư tăng cường khả năng và quy mô đào tạo cho Trường Đại học Đà Lạt và Trường Đại học Tây Nguyên. Mở khoa dự bị đại học dành cho học sinh dân tộc đặt tại Trường Đại học Tây Nguyên.
Nâng cấp Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật Đắc Lắc thành Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Đắc Lắc vào năm 2005 và dự kiến thành lập Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Gia Lai và Trường Cao đẳng Kinh tế - kỹ thuật Kon Tum trong giai đoạn 2006 - 2010. Đầu tư nâng cấp Trường Đào tạo nghề thanh niên dân tộc ở Đắc Lắc, Trường Kỹ thuật Đà Lạt, Lâm Đồng; Nâng cấp, mở rộng 4 trường dạy nghề hiện có, đầu tư xây dựng mới Trường Dạy nghề Kon Tum và 4 trung tâm dạy nghề trọng điểm quận, huyện (mỗi tỉnh 1 trung tâm). Tất cả các huyện, thành phố đều có trung tâm giáo dục thường xuyên.
2. Về y tế: Cải tạo và xây dựng mới các cơ sở y tế, trước hết là xây dựng các bệnh viện khu vực (liên huyện) Đăknông, Ajunpa, Ngọc Hồi, An Khê, Krông pa, v.v... củng cố các trung tâm y tế huyện; duy trì và phát triển phòng khám đa khoa khu vực có hiệu quả. Xây dựng và phát triển trung tâm y tế vùng mà nòng cất là Bệnh viện Buôn Mê Thuột - Đắc Lắc, Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên và Khoa Y Đại học Tây Nguyên.
Thành lập và xây dựng Bệnh viện Y học cổ truyền tại tỉnh Kon Tum. Tất cả các xã phải có trạm y tế được xây dựng kiên cố cùng với việc bố trí đủ yêu cầu cán bộ chuyên môn để bảo đảm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Có chính sách thích hợp để tăng cường thực hiện việc đưa bác sĩ về xã. Phấn đấu đến năm 2005 đạt 50% số xã có bác sĩ; 100% trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, mỗi trạm y tế có từ 3 - 5 cán bộ y tế, trên phạm vi toàn vùng có số bác sĩ trên một vạn dân lên khoảng 4 - 5 người; 100% thôn bản có nhân viên y tế được đào tạo về chuyên môn. Phấn đấu đến năm 2010 thanh toán bệnh dịch hạch trên quy mô toàn vùng. Nâng cấp 4 trung tâm bảo trợ xã hội.
3. Văn hóa, xã hội: Coi trọng đầu tư các công trình phục vụ văn hóa, truyền thanh, truyền hình và các cơ sở hoạt động thể thao, nhà văn hóa, nhà rông ở các buôn phục vụ các lễ hội, phát huy truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc. Tổ chức giao lưu văn hóa giữa các vùng và trong khu vực, các lễ hội truyền thống của các dân tộc. Bảo tồn, phát triển văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào dân tộc Tây Nguyên, tăng cường thể chế văn hóa cơ sở ở các thôn bản thông qua việc thực hiện Quy chế Dân chủ. Phấn đấu đến năm 2005 có 80% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, 50% số làng, bản, xóm, khu phố đạt tiêu chuẩn văn hóa quốc gia, từng bước có nhà văn hóa xã, phường; bình quân mỗi người dân có 4 bản sách/năm. Tất cả các xã có điểm bưu điện văn hóa.
Phấn đấu đến năm 2005 có 100% số xã được phủ sóng truyền hình. Đầu tư thêm 1 đài phát sóng FM công suất 5KW của Trung ương tại Đắc Lắc, mỗi tỉnh 1 bộ thiết bị sản xuất các chương trình tiếng dân tộc và 1 máy phát sóng FM công suất từ 2 - 5 KW, các cụm truyền thanh sóng FM; tăng lượng phát sóng bằng tiếng dân tộc.
Xây dựng đài truyền thanh cho từng xã và cụm xã. Hiện đại hóa trang thiết bị, tăng cường thời lượng phát sóng các chương trình bằng tiếng dân tộc, mỗi huyện có một máy thu phát lại truyền hình với công suất 100-150W, xây dựng ăng ten chảo ở các vùng lõm và cột truyền sóng ở núi Hàm Rồng (Gia Lai), một máy phát sóng VTV1 công suất 2 KW tại thị xã Kon Tum.
Thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội.
4. Xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm:
Xóa đói giảm nghèo là một chương trình bức xúc của Tây Nguyên. Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên phải có kế hoạch tổ chức thực hiện và giải pháp cụ thể về đất đai, giống, vốn và khuyến nông, khuyến lâm cho các hộ đói, nghèo; giúp các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo túng một cách bền vững.
Thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia giải quyết việc làm, đến năm 2005 giải quyết việc làm cho 400-420 ngàn lao động (bình quân mỗi năm khoảng 80-85 ngàn, hỗ trợ cho vay giải quyết việc làm cho khoảng 16 ngàn lao động); phấn đấu giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống khoảng 4%, tỷ lệ sử dụng lao động khu vực nông nghiệp tăng lên khoảng 82%, tạo bước chuyển biến trong cơ cấu, chất lượng lao động và năng suất lao động.
5. Định canh, định cư, di dân phát triển vùng kinh tế mới:
Trước năm 2003 phải định canh định cư và ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc tại chỗ, đặc biệt là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng biên giới. Thực hiện định canh, định cư cho số đồng bào di cư tự do đang gặp khó khăn, giải quyết ổn định đời sống cho đồng bào kinh tế mới đã đến Tây Nguyên trong những năm qua. Hạn chế và tiến tới chấm dứt việc di dân tự do.
Quy hoạch và chuẩn bị xây dựng dự án tái định cư theo hướng xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội (giao thông, thủy lợi, điện, nước, trường học, trạm y tế,...), đất đai cho sản xuất và đất ở nhằm tiếp nhận thêm dân địa phương và một bộ phận dân ở vùng khác đến lập nghiệp, trong đó có dân tái định cư của một số dự án thủy điện.