vanban.org

Điều 10. Lập, chấp hành và quyết toán kinh phí hỗ trợ các đề án khuyến công địa phương — Quyết định 16/2015/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2019 Sửa đổi, bổ sung: 13/2019/QĐ-UBND · 13/06/2019
Kiên Giang Ban hành 03/06/2015 Hiệu lực 13/06/2015 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 11 năm
Quyết định số 16/2015/QĐ-UBND Ban hành quy chế quản lý kinh phí khuyến công địa phương trên địa bàn tỉnh Kiên Giang · 16/2015/QĐ-UBND
01/07/201913/2019/QĐ-UBNDSửa đổi, bổ sung Đang xem 13/06/2015Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 16/2015/QĐ-UBND › Chương III › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Lập, chấp hành và quyết toán kinh phí hỗ trợ các đề án khuyến công địa phương

Sửa đổi bởi 13/2019/QĐ-UBND · hiệu lực 01/07/2019

1. Lập và phân bổ dự toán:

a) Hàng năm, căn cứ chương trình khuyến công địa phương từng giai đoạn đã được phê duyệt và kế hoạch khuyến công địa phương, Sở Công Thương tổng hợp kinh phí khuyến công địa phương vào dự toán ngân sách nhà nước của Sở Công Thương, gửi Sở Tài chính xem xét.

b) Căn cứ dự toán ngân sách nhà nước do Sở Công Thương lập và khả năng cân đối của ngân sách địa phương, Sở Tài chính xem xét, tổng hợp chung vào phương án phân bổ ngân sách địa phương hàng năm, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

c) Căn cứ vào dự toán được giao, Sở Công Thương thực hiện phân bổ kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động khuyến công địa phương theo quy định.

d) Kinh phí khuyến công địa phương nếu chưa sử dụng hết trong năm kế hoạch được chuyển sang năm sau thực hiện theo quy định hiện hành.

2. Chấp hành dự toán

Căn cứ vào nguồn kinh phí khuyến công được bố trí hàng năm; quyết định hỗ trợ kinh phí thực hiện đề án khuyến công của UBND và biên bản nghiệm thu đề án khuyến công. Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp có trách nhiệm tổ chức ký hợp đồng, tạm ứng, quyết toán và thanh lý hợp đồng kinh phí khuyến công địa phương đối với các đơn vị được thụ hưởng theo quy định hiện hành của nhà nước về quản lý tài chính và hướng dẫn của các Bộ Công Thương, Bộ Tài chính đang còn hiệu lực.