Điều 5. Quy trình tập trung chuyển giao đối tượng
1. Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức tập trung đối tượng quy định ở Điều 1 Quyết định này và chuyển giao các đối tượng như sau:
a) Đối với những đối tượng có hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu:
- Đơn vị tập trung phải liên hệ gia đình đối tượng đến làm thủ tục bảo lãnh và lập cam kết không để đối tượng tái lang thang, xin ăn. Thời gian liên hệ gia đình đến làm thủ tục bảo lãnh không quá 06 (sáu) giờ và lập danh sách các đối tượng bị tập trung gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để Ủy ban nhân dân cấp xã có biện pháp quản lý, giáo dục và tạo điều kiện cho đối tượng ổn định cuộc sống.
b) Đối với những đối tượng không có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và đối tượng có hộ khẩu thường trú tại tỉnh xác định được nơi cư trú nhưng người thân không đến bảo lãnh và đối tượng chưa xác định được địa chỉ nơi cư trú, không có giấy tờ tùy thân:
Đơn vị tập trung lập biên bản, chuyển đối tượng về Trung tâm xã hội tỉnh. Thời gian chuyển đối tượng về Trung tâm xã hội là 01 (một) ngày; hồ sơ tạm nhập đối tượng vào Trung tâm xã hội như sau:
-Đơn của đối tượng hoặc người giám hộ (theo mẫu số 8 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC);
-Tờ khai đề nghị trợ giúp xã hội (trong thời gian chờ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội bổ sung mẫu “Tờ khai đề nghị trợ giúp xã hội”, trước mắt tạm thời tiếp tục sử dụng mẫu “Biên bản xác nhận đối tượng không nơi nương tựa cần được giúp đỡ” đã và đang thực hiện cho đến khi Bộ ban hành mẫu Tờ khai).
- Công văn đề nghị tạm nhập đối tượng vào Trung tâm của đơn vị bàn giao đối tượng.
c) Trong thời gian 07 (bảy) ngày làm việc, đơn vị tập trung đối tượng hoàn tất hồ sơ gửi về Sở Lao động – Thương binh và Xã hội để ra Quyết định tiếp nhận. Hồ sơ như sau:
-Đơn của đối tượng hoặc người giám hộ (mẫu số 8 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 24/10/2014);
-Tờ khai đề nghị trợ giúp xã hội (trong thời gian chờ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội bổ sung mẫu “Tờ khai đề nghị trợ giúp xã hội”, trước mắt tạm thời tiếp tục sử dụng mẫu “Biên bản xác nhận đối tượng không nơi nương tựa cần được giúp đỡ” đã và đang thực hiện cho đến khi Bộ ban hành mẫu Tờ khai);
-Bản sao chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân của đối tượng (nếu có);
-Biên bản đối với trường hợp khẩn cấp có nguy cơ đe dọa tính mạng của đối tượng;
-Văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh;
-Biên bản bàn giao đối tượng;
-Văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng đang ở hoặc nơi phát hiện thấy cần sự bảo vệ khẩn cấp.
2. Quản lý, phân loại và chuyển đối tượng về các Trung tâm chuyên biệt: Trong thời gian 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày tiếp nhận đối tượng, Trung tâm xã hội có trách nhiệm quản lý, nuôi dưỡng, giải quyết hồi gia, hòa nhập cộng đồng, hoặc chuyển đối tượng đến nuôi dưỡng tại các Trung tâm chuyên biệt như sau:
a) Đối với đối tượng là trẻ em, người cao tuổi không có con cháu, người thân đến bảo lãnh: Trung tâm xã hội có văn bản đề nghị Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chuyển về các Trung tâm chuyên biệt. Các Trung tâm chỉ thực hiện việc chuyển và tiếp nhận đối tượng khi có Quyết định của Sở, cụ thể như sau:
- Nếu đối tượng là người cao tuổi (không bị bệnh truyền nhiễm): chuyển về Trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn.
- Nếu đối tượng là trẻ em dưới 16 tuổi (trẻ nhiễm HIV/AIDS, trẻ lang thang kiếm sống, trẻ có cha hoặc mẹ đang trong thời gian thi hành án, trẻ khuyết tật...): chuyển về Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu.
- Nếu đối tượng là trẻ em trẻ mồ côi dưới 16 tuổi: chuyển về một trong hai Trung tâm: Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu hoặc Trung tâm công tác xã hội.
* Riêng đối với các trường hợp đối tượng là trẻ em bị tâm thần nặng thì Trung tâm xã hội chịu trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng sao cho phù hợp với lứa tuổi của trẻ em (sắp xếp, bố trí nơi ăn nghỉ, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc y tế,...).
Trường hợp sau khi chuyển về các Trung tâm chuyên biệt mới phát hiện đối tượng có biểu hiện tâm thần, lao hay các bệnh truyền nhiễm khác: nếu bệnh nhẹ thì Trung tâm chuyên biệt tiếp tục quản lý nuôi dưỡng; nếu có biểu hiện bệnh nặng (có ý kiến xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên) thì Trung tâm đó có văn bản đề nghị Sở chuyển đối tượng về Trung tâm xã hội để chăm sóc.
b) Đối với đối tượng lang thang, xin ăn trong độ tuổi lao động, còn khả năng lao động (người từ đủ 16 tuổi):
- Nếu xác định được nơi cư trú, Trung tâm xã hội có trách nhiệm liên hệ với gia đình đến cam kết, làm thủ tục bảo lãnh về gia đình để quản lý nuôi dưỡng; đồng thời thông báo cho chính quyền địa phương (xã, phường, thị trấn) nơi đối tượng cư trú để phối hợp quản lý, giáo dục. Chính quyền địa phương, sau khi nhận được văn bản của Trung tâm xã hội, có tránh nhiệm tiếp nhận đối tượng trở về địa phương và tạo điều kiện cho đối tượng ổn định cuộc sống nhằm hạn chế tình trạng tái lang thang.
- Trường hợp đối tượng không xác định được nơi cư trú hoặc xác định được nơi cư trú nhưng trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày tiếp nhận, Trung tâm đã liên hệ với gia đình nhưng gia đình không đến bảo lãnh thì Trung tâm giải quyết cho hòa nhập cộng đồng.
c) Đối với đối tượng là người khuyết tật lang thang (kể cả người tâm thần hoặc có biểu hiện tâm thần): Trung tâm thông báo về gia đình, địa phương nơi đối tượng cư trú (nếu xác định được địa chỉ nơi cư trú) để làm thủ tục bảo lãnh về quản lý nuôi dưỡng tại gia đình. Trường hợp gia đình không đến bảo lãnh hoặc các đối tượng không xác định được nơi cư trú thì Trung tâm tiếp tục nuôi dưỡng và liên hệ chính quyền địa phương thực hiện việc xác định mức độ khuyết tật cho đối tượng. Trong quá trình nuôi dưỡng nếu bệnh tình thuyên giảm (có kết luận của Bệnh viện tâm thần tỉnh đối với người tâm thần hoặc cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên đối với người khuyết tật) thì Trung tâm giải quyết cho đối tượng hòa nhập cộng đồng.
3. Đối với các trường hợp đặc biệt:
-Thời gian nuôi dưỡng đối tượng tại Trung tâm không quá 03 (ba) tháng (như đối tượng trong độ tuổi lao động có khả năng lao động bị tập trung sau khi vào Trung tâm bị bệnh nặng tạm thời không thể tự lo liệu được cuộc sống, những trường hợp đặc biệt khác phải có ý kiến của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội).
- Đối với đối tượng tái lang thang, Trung tâm áp dụng hình thức lao động bắt buộc cho đối tượng, thời gian lao động bắt buộc tại Trung tâm là 03 (ba) tháng. Trong thời gian này, Trung tâm sẽ quản lý, theo dõi, đánh giá quá trình lao động, giáo dục của đối tượng. cụ thể như sau:
+ Nếu đối tượng thực hiện lao động tốt: Trung tâm có trách nhiệm liên hệ gia đình đến làm thủ tục bảo lãnh và giải quyết hòa nhập cộng đồng cho đối tượng.
+ Nếu đối tượng không thực hiện lao động tốt: Trung tâm tiếp tục áp dụng biện pháp lao động bắt buộc cho đối tượng. Định kỳ 01 tháng, Trung tâm đánh giá lại quá trình giáo dục, lao động của đối tượng và xem xét giải quyết bão lãnh, hồi gia đối với đối tượng thực hiện giáo dục, lao động tốt.
4. Những trường hợp trong quá trình nuôi dưỡng nếu phát hiện mắc các bệnh xã hội như: lao, HIV…(do Trung tâm y tế cấp huyện xác nhận) thì thời gian nuôi dưỡng tại Trung tâm theo thời gian điều trị bệnh xã hội trong chương trình quốc gia về phòng chống bệnh xã hội. Khi hoàn thành chương trình điều trị hoặc có ý kiến của Trung tâm y tế cấp huyện trở lên (đối với người nhiễm HIV) thì Trung tâm giải quyết cho hòa nhập cộng đồng.