Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Quyết định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Người lang thang xin ăn (người khuyết tật, người có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, kể cả người có hành vi gây mất trật tự xã hội, gây nguy hiểm cho người khác hoặc có các biểu hiện hành vi thiếu văn hóa nơi công cộng; người kết hợp công việc khác với việc xin ăn) là những người trực tiếp đi xin, hoặc người vừa kết hợp hành vi đi xin với công việc khác (có tính đối phó khi bị kiểm tra, phát hiện) như: bán hàng rong, bán sách báo, bán vé số, đánh giày, bán báo, bán hàng rong; giả danh Tu sĩ Phật giáo để đi khất thực; giả danh đi tìm người thân, bị mất cắp trên đường, lỡ tàu xe để đi xin ăn, người bị đau ốm đang nằm viện,...
2. Người lang thang sinh sống nơi công cộng: là những người bị cơ nhỡ do tàu xe, bị mất cắp chưa liên hệ được người thân, tạm thời phải sinh sống nơi công cộng; hoặc những người có nơi cư trú, có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú nhưng không sinh sống tại đó mà đi lang thang, không có nơi ở cố định và ăn, ngủ tại những nơi công cộng như vỉa hè, chợ, bến xe, bến tàu, công viên,...
3. Người dẫn dắt trẻ em, người khuyết tật hoặc mang theo trẻ em, người khuyết tật để bán hàng rong, đeo bám chèo kéo người đi đường: là những người đi theo để hỗ trợ hoặc trực tiếp dẫn dắt mang theo trẻ em, người khuyết tật để bán hàng rong, bán sách báo, vé số dạo,...
4. Các đối tượng xã hội khác sống lang thang trên đường phố: là những người già yếu, trẻ em, người khuyết tật nặng, người ốm yếu không còn khả năng lao động sống lang thang trên đường phố, không xác định được nơi cư trú, ăn, ngủ, sinh hoạt tại những nơi công cộng như vỉa hè, chợ, bến xe, công viên,…