Điều 8. Chấm dứt hợp đồng cộng tác
1. Hợp đồng cộng tác bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
a) Cộng tác viên có đơn đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chấm dứt hợp đồng cộng tác;
b) Cộng tác viên không trung thực trong thực hiện công việc được giao;
c) Cộng tác viên không đảm bảo thực hiện công việc đúng yêu cầu về thời gian và chất lượng theo hợp đồng hoặc theo yêu cầu của cơ quan thẩm quyền;
d) Sử dụng danh nghĩa cộng tác viên để thực hiện các hoạt động khác ngoài nhiệm vụ tư vấn xuất khẩu lao động;
đ) Cộng tác viên có hành vi vi phạm các quy định của Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
2. Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện, thành phố có trách nhiệm chấm dứt hợp đồng cộng tác đối với cộng tác viên vi phạm các quy định tại khoản 1 Điều này. Sau 5 ngày (ngày làm việc) kể từ ngày chấm dứt hợp đồng với cộng tác viên, Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội trình UBND huyện, thành phố quyết định hủy công nhận cộng tác viên đối với cá nhân bị chấm dứt hợp đồng cộng tác.
3. Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng cộng tác, các bên trong hợp đồng cộng tác có trách nhiệm tiến hành thanh lý hợp đồng cộng tác. Cộng tác viên đã chấm dứt hợp đồng cộng tác vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những việc đã thực hiện trong quá trình là cộng tác viên.