Điều 12. Quy định về quản lý, cấp phát, thanh toán, kế toán và quyết toán
Việc quản lý, cấp phát, thanh toán kinh phí để thực hiện các chính sách theo quy định tại Quyết định số 755/QĐ-TTg cho các đơn vị và cho từng hộ dân phải chặt chẽ, đảm bảo đúng mục tiêu, đúng đối tượng; nhất là đối với những khoản thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt (hoặc hiện vật) cho các hộ dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm lập danh sách cho từng hộ ký nhận và thực hiện đầy đủ thủ tục, chứng từ theo quy định:
1. Hỗ trợ đất ở, đất sản xuất
Căn cứ phương án giải quyết về đất ở và đất sản xuất cho các hộ chưa có hoặc chưa đủ đất ở, đất sản xuất; tuỳ theo phương thức thực hiện để có cơ chế cấp phát thanh toán cho phù hợp. Mức thanh toán tương ứng với số diện tích thực tế đã khai hoang hoặc chuyển nhượng và tối đa không vượt quá mức quy định hỗ trợ của nhà nước cho từng hộ dân được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc thanh toán phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
a) Đối với đất dân tự khai hoang
Uỷ ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với cơ quan chuyên môn của huyện được giao nhiệm vụ Quy định các hộ tổ chức khai hoang theo đúng quy hoạch sử dụng đất của từng xã và phù hợp tập quán canh tác của đồng bào.
Căn cứ kết quả khai hoang của các hộ dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã và cơ quan chuyên môn được Uỷ ban nhân dân huyện giao nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ thu khối lượng, lập biên bản nghiệm thu.
Căn cứ danh sách các hộ dân tự tổ chức khai hoang, biên bản nghiệm thu diện tích khai hoang, giấy đề nghị của Uỷ ban nhân dân cấp xã; cơ quan chuyên môn của huyện được giao nhiệm vụ Quy định các hộ tổ chức khai hoang, phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện kiểm tra, báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định mức hỗ trợ, Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước để thanh toán cho từng hộ dân.
b) Đối với đất nhận chuyển nhượng
Uỷ ban nhân dân cấp huyện giao một đơn vị chuyên môn phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã, cùng với các hộ dân xác định diện tích đất chuyển nhượng của các hộ, lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất và biên bản bản giao (có xác nhận của các bên liên quan và chính quyền cấp xã);
Căn cứ định mức chi, danh sách và diện tích đất chuyển nhượng của các hộ dân, biên bản bản giao; Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện kiểm tra, báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định mức hỗ trợ cho từng hộ dân làm cơ sở để Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước, thanh toán cho các hộ dân có đất chuyển nhượng, đồng thời thông báo sang Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện cho vay.
2. Đối với quỹ đất thu hồi của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp:
Thực hiện theo quy định hiện hành.
3. Hỗ trợ các chính sách khác
a) Hỗ trợ hộ có lao động học nghề để chuyển đổi nghề:
Việc tổ chức học nghề, hỗ trợ lao động học nghề để chuyển đổi nghề thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 102/2013/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 30 tháng 7 năm 2013 của liên bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định quy định quản lý và sử dụng nguồn vốn sự nghiệp thực hiện một số dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012 - 2015.
b) Hỗ trợ hộ có lao động, có nhu cầu vốn để mua sắm nông cụ, máy móc làm dịch vụ sản xuất nông nghiệp hoặc cần vốn để làm ngành nghề khác, tăng thu nhập.
Căn cứ danh sách các hộ được duyệt, Uỷ ban nhân dân cấp xã tổng hợp gửi phòng Dân tộc và Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện, kiểm tra báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định hỗ trợ, làm cơ sở để Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước, thanh toán cho các đối tượng.
c) Kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động, kinh phí giao khoán bảo vệ rừng và trồng rừng: Thực hiện cấp phát và thanh toán cho đối tượng theo quy định tại văn bản Quy định quản lý sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia việc làm và chương trình bảo vệ phát triển rừng.
4. Thực hiện chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán
Căn cứ danh sách các hộ dân được hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đăng ký của các hộ dân về phương thức thực hiện; Uỷ ban nhân dân cấp xã tổng hợp nhu cầu và phân loại theo từng phương thức thực hiện (các hộ dân nhận lu, stéc, vật dụng chứa nước; tự làm bể chứa nước; tự đào giếng hoặc tự tạo nguồn nước khác) gửi Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, cơ quan công tác dân tộc cấp huyện kiểm tra, báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định mức hỗ trợ cho từng hộ dân. Mức cấp phát thanh toán không vượt quá mức quy định hỗ trợ của nhà nước cho từng hộ dân được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc cấp phát, thanh toán cho các đối tượng được hưởng chính sách theo các phương thức thực hiện như sau:
a) Đối với các hộ dân được cấp lu, stéc, vật dụng chứa nước
Căn cứ danh sách đăng ký của các hộ dân, hợp đồng cung ứng giữa đơn vị được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ với đơn vị cung ứng lu, stéc, vật dụng chứa nước; khối lượng lu, stéc, vật dụng chứa nước thực tế cấp cho các hộ dân theo biên bản giao giữa đơn vị cung ứng và từng hộ dân (có ký nhận của chủ hộ), Uỷ ban nhân dân cấp xã kiểm tra, thực hiện rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước thanh toán cho các đơn vị cung cấp lu, stéc, vật dụng chứa nước theo quy định.
b) Đối với các hộ dân tự làm bể chứa nước
Căn cứ danh sách đăng ký của các hộ dân, đơn vị được cơ quan có thẩm quyền giao cung ứng xi măng tại thôn cho từng hộ dân theo đúng số lượng đã hợp đồng. Khi giao xi măng cho từng hộ dân phải lập bảng kê khối lượng xi măng giao cho từng hộ dân để các hộ ký nhận, gửi Uỷ ban nhân dân cấp xã làm căn cứ thanh toán.
Căn cứ bảng kê khối lượng xi măng thực tế cung ứng cho các hộ dân, giá bán đến thôn bản đã ký kết, Uỷ ban nhân dân cấp xã kiểm tra, thực hiện rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước thanh toán cho đơn vị cung ứng xi măng theo quy định.
c) Đối với các hộ dân tự đào giếng hoặc tự tạo nguồn nước khác
Căn cứ danh sách đăng ký của các hộ dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã vận động các tổ chức chính trị - xã hội tại xã phối hợp với cộng đồng dân cư hướng dẫn, giúp đỡ các hộ dân thực hiện.
Sau khi có biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành (có chữ ký xác nhận của hộ gia đình, tổ chức chính trị - xã hội tại xã), Uỷ ban nhân dân cấp xã kiểm tra, thực hiện rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước để thanh toán cho các hộ.
5. Đối với các công trình khai hoang tập trung hoặc công trình cấp nước sinh hoạt tập trung tại các thôn, bản.
Để đảm bảo đầu tư đồng bộ, phù hợp yêu cầu trước mắt và lâu dài, kế hoạch đầu tư công trình cấp nước sinh hoạt tập trung tại thôn, bản, khai hoang tạo quỹ đất phải dựa trên cơ sở quy hoạch, dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt. Nội dung lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, khai hoang tập trung thực hiện theo quy định hiện hành.
a) Dự án đầu tư :
- Dự án đầu tư công trình cấp nước sinh hoạt tập trung và khai hoang tập trung được chia làm 2 loại do UBND tỉnh quyết định:
+ Dự án đầu tư do huyện quản lý: Gồm các dự án đầu tư công trình cấp nước sinh hoạt tập trung và khai hoang tập trung của huyện được UBND tỉnh quyết định, trong đó mỗi xã là một dự án thành phần.
+ Dự án đầu tư do xã quản lý: Chỉ áp dụng với những công trình có quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, đội ngũ cán bộ xã có đủ năng lực tự đảm nhận được công việc quản lý điều hành thực hiện dự án, với dự án có mức vốn đầu tư dưới 500 triệu đồng.
b) Chủ đầu tư dự án:
- Dự án do huyện quản lý thì UBND huyện làm chủ đầu tư.
- Dự án do xã quản lý thì UBND xã làm chủ đầu tư.
UBND huyện có trách nhiệm lồng ghép vốn của các chương trình, dự án khác trên cùng địa bàn huyện với nguồn vốn của Quyết định 755/QĐ-TTg để phân bổ vốn cho từng công trình ở từng xã trong kế hoạch hàng năm, đảm báo phù hợp giữa khả năng nguồn vốn với tiến độ đầu tư của công trình, và thực hiện hết vốn, hoàn thành công trình theo tiến độ đã được duyệt.
Trong quá trình điều hành, tuỳ theo quy mô và tính chất của từng công trình cụ thể, Chủ tịch UBND huyện có thể phân cấp cho xã đảm nhận quản lý đầu tư và xây dựng một số công trình đơn giản có mức vốn dưới 500 triệu.
c) Ban quản lý dự án: Chủ đầu tư thành lập ban quản lý dự án; ban quản lý dự án hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, có nhiệm vụ và quyền hạn giúp chủ đầu tư tổ chức, triển khai thực hiện đầu tư xây dựng công trình.
- Ban quản lý dự án cấp huyện: UBND huyện thành lập ban quản lý dự án hoặc giao cho ban quản lý dự án đã có thực hiện. Ban quản lý dự án huyện được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh, huyện và có con dấu riêng.
- Ban quản lý dự án cấp xã: Trưởng ban do Chủ tịch UBND xã đề nghị, Chủ tịch UBND huyện quyết định. Ban quản lý dự án cấp xã được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước huyện và dùng con dấu của UBND xã để giao dịch.
- Ban quản lý dự án giúp chủ đầu tư thực hiện các nhiệm vụ :
+ Lập dự án đầu tư.
+ Lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình, thiết kế, lập dự toán công trình.
+ Lập kế hoạch sử dụng nguồn lực huy động cho công trình.
+ Lập kế hoạch đầu tư hàng năm.
+ Tổ chức đầu tư, giám sát thi công công trình.
+ Quản lý vật tư, tài sản, tiền vốn đầu tư cho công trình.
+ Lập thủ tục để thanh, quyết toán vốn đầu tư.
+ Tổ chức nghiệm thu, bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng.
d) Lập, thẩm định và thực hiện đầu tư :
- Việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư công trình cấp nước sinh hoạt tập trung và khai hoang tập trung thực hiện theo quy định hiện hành.
- Dự án sau khi được phê duyệt, UBND huyện gửi về Thường trực Ban chỉ đạo thực hiện Quyết định 755 tỉnh (Ban Dân tộc tỉnh) để tổng hợp, thông báo cho các thành viên Ban chỉ đạo biết và chỉ đạo thực hiện. Công trình phải đúng danh mục, đối tượng đã được UBND tỉnh phê duyệt.
- Hàng năm, chủ đầu tư phải thực hiện kế hoạch chuẩn bị đầu tư các công trình cấp nước sinh hoạt tại xóm, khai hoang tập trung cho năm sau, trình UBND tỉnh quyết định. Vốn chuẩn bị đầu tư được bố trí trong kế hoạch từ nguồn vốn Ngân sách Trung ương đầu tư.
- Thiết kế - dự toán: Chủ đầu tư có trách nhiệm ký hoặc uỷ quyền cho Trưởng ban quản lý dự án ký hợp đồng với các tổ chức tư vấn lập thiết kế, dự toán.
+ Trước khi phê duyệt các công trình, UBND huyện giao cho cơ quan chuyên môn tổ chức thẩm định đầu tư công trình.
- Đơn giá để tính dự toán do thông báo giá của liên sở: Sở Tài chính - Sở Xây dựng.
- Tổ chức thực hiện: UBND huyện quyết định tổ chức đấu thầu theo hình thức chỉ định thầu nhưng phải giao cho đơn vị nhận thầu thi công ưu tiên sử dụng lao động tại chỗ tham gia xây dựng công trình dựa trên cơ sở dự toán được duyệt và có sự giám sát của xã, xóm.
- UBND các huyện ưu tiên các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung có quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản giao cho cộng đồng thực hiện theo quy định đối với các công trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các xã thuộc Chương trình 135 theo văn bản Quy định thực hiện Quyết định 551/QĐ-TTg của UBND tỉnh.
- Giám sát thi công: Chủ đầu tư, tư vấn giám sát và ban giám sát công trình của xã phối hợp thực hiện.
- Nghiệm thu, bàn giao, quản lý, khai thác công trình:
Chủ đầu tư tổ chức nghiệm thu công trình hoàn thành theo quy định hiện hành. Sau khi hoàn thành nghiệm thu chủ đầu tư bàn giao một bộ hồ sơ, tài liệu về các vấn đề có liên quan đến công trình cho UBND xã. Thủ tục bàn giao công trình phải theo đúng quy định hiện hành.
Riêng công trình khai hoang, sau khi hoàn thành UBND xã lập danh sách và diện tích, thông qua HĐND xã và trình cấp có thẩm quyền quyết định giao quyền sử dụng đất cho từng hộ gia đình.
e) Các nguồn vốn đầu tư:
- Nguồn lực huy động tại chỗ của cộng đồng.
- Nguồn hỗ trợ của các ngành, đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội và các nguồn khác.
+ Nếu hỗ trợ chung cho huyện thì tổng hợp chung vào nguồn vốn của huyện đầu tư cho dự án để phân bổ cho từng dự án.
+ Nếu hỗ trợ trực tiếp cho xã, xóm hoặc cho công trình cụ thể thì tổng hợp vào nguồn vốn của ngân sách xã để đầu tư cho công trình theo đề nghị của nhà tài trợ.
- Nguồn vốn Ngân sách Trung ương.
- Nguồn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.
+ Nếu hỗ trợ chung cho huyện thì tổng hợp chung vào nguồn vốn đầu tư của dự án để phân bổ cho từng công trình.
+ Nếu hỗ trợ trực tiếp cho xã, xóm hoặc công trình cụ thể bằng tiền hoặc vật tư thì tổng hợp vào nguồn vốn của ngân sách xã để đầu tư cho công trình theo đề nghị của nhà tài trợ.
- Nguồn vốn Ngân sách địa phương.
Ngoài ra còn có nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đầu tư qua các chương trình mục tiêu Quốc gia và các chương trình, dự án đầu tư khác cùng đầu tư trên địa bàn.
f) Tạm ứng, thanh toán vốn: Tạm ứng, thanh toán, quyết toán vốn theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản Quy định hiện hành.
g) Trách nhiệm kiểm soát chi: Kho bạc Nhà nước kiểm soát thanh toán đảm bảo số tiền hỗ trợ theo đúng kinh phí được cấp và danh sách phê duyệt theo Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm về tính chính xác của biên bản nghiệm thu và việc sử dụng số tiền hỗ trợ đúng mục đích, đúng đối tượng.
h) Báo cáo kế toán và quyết toán
Số kinh phí Ngân sách Trung ương hỗ trợ thực hiện các chính sách hỗ trợ hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo đời sống khó khăn theo quy định tại Quyết định số 755/QĐ-TTg được hạch toán, quyết toán thu, chi ngân sách địa phương theo quy định hiện hành.
Kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi nghề, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn được hạch toán, tổng hợp vào ngân sách như sau: Đối với kinh phí hộ có lao động học nghề để chuyển đổi nghề được hạch toán, tổng hợp vào ngân sách cấp tỉnh; đối với kinh phí hỗ trợ quy định tại Khoản 1, 3b, 4, 5, Điều 12 của Chương II Quy định này được hạch toán, tổng hợp ngân sách cấp huyện (ngân sách cấp huyện cấp kinh phí uỷ quyền cho ngân sách cấp xã) hoặc quyết toán ngân sách cấp xã (ngân sách cấp huyện bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp xã) theo phân cấp ngân sách do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN