Điều 11. Bồi thường đối với đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp của tổ chức
1. Tổ chức đang sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao, đã nộp tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng từ người sử dụng đất hợp pháp, mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền trả cho việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
2. Tổ chức được Nhà nước cho thuê đất hoặc giao đất không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc đã nộp tiền sử dụng đất bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; nếu tiền chi phí đầu tư vào đất còn lại không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì tiền chi phí đầu tư này được bồi thường.
3. Cơ sở của tổ chức tôn giáo đang sử dụng đất ổn định, nếu là đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất thì không được bồi thường, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
4. Về giá bồi thường: áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Quy định này.
a) Đối với đất nông nghiệp: tính bồi thường theo giá đất nông nghiệp.
b) Đối với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (không phải là đất ở) được cơ quan Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: tính bằng 70% đơn giá đất ở.
c) Đối với các trường hợp đặc biệt khác thì giao Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét, đề xuất và trình Ủy ban nhân dân tỉnh.
5. Về chi phí đầu tư vào đất còn lại: Áp dụng theo quy định tại khoản 2, Điều 8 của Quy định này.
6. Đơn vị, tổ chức được Nhà nước cho thuê đất nhưng cho thuê lại thì tự chấm dứt và thanh lý hợp đồng với bên thuê, Nhà nước chỉ bồi thường, hỗ trợ cho đơn vị tổ chức được Nhà nước cho thuê đất.