Điều 11. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tư vấn lập dự án đầu tư xây dựng công trình
1. Chỉ được nhận lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với năng lực hoạt động xây dựng của mình.
2. Có điều kiện năng lực hoạt động xây dựng phù hợp với công việc lập dự án đầu tư xây dựng công trình do mình đảm nhận theo quy định tại Nghị định số 12/2009/NĐ-CP, Nghị định số 83/2009/NĐ-CP, Nghị định số 112/2009/NĐ-CP.
3. Có người đủ năng lực hành nghề lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với yêu cầu của dự án để đảm nhận chức danh chủ nhiệm lập dự án; Cá nhân đảm nhận chức danh chủ nhiệm, chủ trì lập thiết kế cơ sở (thiết kế bản vẽ thi công đối với dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ yêu cầu lập báo cáo kinh tế kỹ thuật) phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với công việc thực hiện và phải đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng theo quy định tại Nghị định số 12/2009/NĐ-CP, Nghị định số 83/2009/NĐ-CP, Nghị định số 112/2009/NĐ-CP.
4. Thực hiện đúng công việc theo hợp đồng đã ký kết.
5. Chịu trách nhiệm về chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình được lập.
6. Không được tiết lộ thông tin, tài liệu có liên quan đến việc lập dự án đầu tư xây dựng công trình do mình đảm nhận khi chưa được phép của bên thuê hoặc người có thẩm quyền.
7. Bồi thường thiệt hại khi sử dụng thông tin, tài liệu, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, các giải pháp kỹ thuật, công nghệ không phù hợp và các hành vi vi phạm khác gây thiệt hại do lỗi của mình gây ra.