Điều 12. Kinh phí đào tạo và việc bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo
1. Sở Tài chính chủ trì và phối hợp với các Sở, ngành đề xuất việc bố trí nguồn ngân sách cho Sở Giáo dục và Đào tạo để chuyển trả các cơ sở đào tạo cho công tác cử tuyển đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để chuyển trả các cơ sở đào tạo cho công tác cử tuyển cao đẳng nghề, trung cấp nghề đảm bảo đúng các quy định hiện hành.
a) Những sinh viên học tập đạt kết quả lên lớp và tốt nghiệp theo thời gian đào tạo của từng ngành nghề được cấp kinh phí theo quy định.
b) Những sinh viên phải ngừng học (lưu ban) trong khoá học (cả năm dự bị) chỉ được cấp kinh phí cho những năm được phép ngừng học quy định cho các đối tượng ưu tiên trong đào tạo theo Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy (ban hành kèm theo Quyết định số 25/2006/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo). Quá thời gian quy định trên, sinh viên phải báo cáo với Sở Giáo dục và Đào tạo để xử lý kịp thời.
2. Việc thực hiện quy định về bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo và xử lý các trường hợp không thực hiện bồi hoàn
- Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về trường hợp phải bồi hoàn, mức bồi hoàn và cách tính bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo theo Điều 12, 13 và 14 của Nghị định 134/2006/NĐ-CP.
- Trường hợp người theo học chế độ cử tuyển phải bồi hoàn chi phí đào tạo trong giai đoạn học tập: Sở Giáo dục và Đào tạo và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các cơ sở đào tạo, Sở Tài chính và các Sở, ngành hữu quan, Uỷ ban nhân dân cấp huyện có học sinh cử tuyển để quản lý và thu hồi tiền bồi hoàn nộp vào ngân sách nhà nước.
- Trường hợp người theo học chế độ cử tuyển phải bồi hoàn chi phí đào tạo sau khi đã tốt nghiệp: Sở Nội vụ có trách nhiệm phối hợp với Sở Tài chính, các Sở ban ngành hữu quan của tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp huyện có học sinh cử tuyển để quản lý và thu hồi tiền bồi hoàn và nộp vào ngân sách nhà nước.