vanban.org

Điều 3. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định thu hồi đất sản xuất của nông trường, lâm trường giao cho Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp huyện) để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Việc bồi thường đất và tài sản được thực hiện như sau: — Quyết định 146/2005/QĐ-TTg

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 20/08/2017 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 20/08/2017 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 30/2017/QĐ-TTg · 07/07/2017 Sửa đổi, bổ sung: 57/2007/QĐ-TTg · 04/05/2007
Thủ tướng Chính phủ Ban hành 15/06/2005 Hiệu lực 07/07/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 21 năm
Quyết định số 146/2005/QĐ-TTg Về chính sách thu hồi đất sản xuất của các nông trường, lâm trường để giao cho hệ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo · 146/2005/QĐ-TTg
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 146/2005/QĐ-TTg › Điều 3
Đọc toàn văn

Điều 3. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định thu hồi đất sản xuất của nông trường, lâm trường giao cho Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp huyện) để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Việc bồi thường đất và tài sản được thực hiện như sau:

1. Về đất:

a. Đất sản xuất của nông trường, lâm trường được giao không thu tiền sử dụng đất khi thu hồi, không được bồi thường; trường hợp nông, lâm trường đã thực hiện giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại và được hỗ trợ theo quy định tại khoản 5 Điều 1 0 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, cụ thể như sau:

- Hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 10 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ đối với hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đất là công nhân, viên chức đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc đang hưởng trợ cấp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán cư trú trên địa bàn đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 3 Nghị định số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước và Điều 2 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh;

Người được hỗ trợ phải có tên trong hợp đồng giao khoán và được ký kết theo quy định hợp đồng giao khoán của nông, lâm trường; trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp;

Diện tích đất được hỗ trợ theo diện tích thực tế nhận khoán, nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất trồng cây hàng năm theo quy định tại khoản 1 Điều 70 Luật Đất đai năm 2003; diện tích nhận khoán vượt hạn mức giao không được hỗ trợ nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

- Thực hiện bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 10 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ đối với hộ gia đình, cá nhân nhận khoán theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước và Điều 2 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh;

- Hộ nhận khoán đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì không được hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 10 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất mà chỉ được hưởng mức ăn chia sản phẩm theo quy định tại Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp và hướng dẫn tại Thông tư liên Bộ số 80/2003/TTLT-BNN-BTC ngày 03 tháng 9 năm 2003 của Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

b) Đất sản xuất của nông trường, lâm trường đã chuyển sang thuê đất hoặc được nhà nước cho thuê đất sau ngày 01 tháng 01 năm 1999, đã trả tiền thuê đất cho nhiều năm hoặc trả tiền thuê đất cho cả thời hạn thuê đất, khi nhà nước thu hồi được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (gồm: tiền thuê đất trả trước còn lại, chi phí san lấp mặt bằng và một số chi phí khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được).

Tiền thuê đất đã trả cho thời gian thuê đất còn lại được xác định theo thời gian đã trả tiền thuê đất còn lại nhân với đơn giá thuê đất của loại đất đang sử dụng (đất sản xuất) tại thời điểm thu hồi đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với diện tích đất thuê.

2. Về vườn cây lâu năm, rừng trồng trên đất bị thu hồi.

a. Vườn cây lâu năm, rừng trồng của nông trường, lâm trường bao gồm: cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây rừng được hình thành từ nguồn vốn vay hoặc từ nguồn vốn đầu tư của hộ gia đình, cá nhân nhận khoán của nông trường, lâm trường thì khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường theo giá trị hiện có của vườn cây; không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất. Việc xác định giá trị vườn cây lâu năm, rừng trồng để bồi thường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

b) Vườn cây lâu năm, rừng trồng của nông trường, lâm trường được hình thành từ các nguồn vốn khác không thuộc quy định tại điểm a khoản này khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường;

c) Cây rừng tái sinh, cây rừng được trồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước (kể cả từ nguồn vốn của các dự án đầu tư phát triển rừng) mà nông trường, lâm trường đã giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân trồng, khoanh nuôi, bảo vệ, tái sinh rừng, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường về cây rừng trồng trên đất. Mức bồi thường tương đương với mức phân chia sản phẩm do Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định tại Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.

3. Về nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất:

a) Nhà, công trình xây dựng khác và các tài sản khác gắn liền với đất của nông trường, lâm trường được đầu tư, xây dựng phục vụ trực tiếp cho sản xuất của thửa (lô) đất bị thu hồi; mà vốn đầu tư các tài sản này được hình thành từ nguồn vốn vay hoặc vốn đầu tư hộ gia đình, cá nhân nhận khoán của các nông trường, lâm trường; khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường theo quy định tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

b) Nhà, công trình xây dựng khác... gắn liền với đất được đầu tư từ các nguồn vốn khác không thuộc quy định tại điểm a khoản này khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường.