vanban.org

Điều 4. Chế độ tiền công đối với vận động viên, huấn luyện viên là người có quốc tịch Việt Nam hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong thời gian tập trung tập huấn và thi đấu: — Quyết định 1400/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Thừa Thiên Huế Ban hành 13/07/2009 Hiệu lực 13/07/2009 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 17 năm
Quyết định số 42/2012/QĐ-UBND Về việc quy định một số chế độ dinh dưỡng đặc thù cho vận động viên, huấn luyện viên thể thao thành tích cao và chế độ chi tiêu tài chính đối với các giải thi đấu thể thao tại tỉnh Thừa Thiên Huế. · 42/2012/QĐ-UBND
Quyết định số 1400/QĐ-UBND Về việc quy định một số chế độ đối với vận động viên, huấn luyện viên thể thao của tỉnh Thừa Thiên Huế 2009 · 1400/QĐ-UBND
13/07/2009Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 1400/QĐ-UBND › Chương II › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Chế độ tiền công đối với vận động viên, huấn luyện viên là người có quốc tịch Việt Nam hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong thời gian tập trung tập huấn và thi đấu:

 Đối với huấn luyện viên, vận động viên hưởng lương từ ngân sách nhà nước thì mức tiền công áp dụng theo Khoản 2, Mục I, Thông tư liên tịch số 34/2007/TTLT/BTC- BLĐTBXH-UBTDTT (Thông tư liên tịch số 34/2007) ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Uỷ ban Thể dục Thể thao hướng dẫn thực hiện Quyết định số 234/QĐ-TTg, cụ thể như sau:

1. Trong thời gian tập huấn, thi đấu được hưởng nguyên lương tại cơ quan - tổ chức quản lý huấn luyện viên, vận động viên. Trường hợp mức tiền lương theo ngày của huấn luyện viên, vận động viên thấp hơn mức tiền công quy định tại Khoản 1.1, Mục II Thông tư liên tịch số 34/2007 thì cơ quan - tổ chức sử dụng huấn luyện viên, vận động viên chi trả thêm phần chênh lệch để đảm bảo mức tiền công tương ứng. Mức tiền lương theo ngày của huấn luyện viên, vận động viên được xác định bằng tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc tiêu chuẩn trong một tháng là 22 ngày.

2. Trong trường hợp huấn luyện viên, vận động viên có thời gian thực tế tập huấn và thi đấu cao hơn số ngày làm việc tiêu chuẩn trong một tháng là 22 ngày thì cơ quan - tổ chức sử dụng huấn luyện viên, vận động viên trả công bằng mức quy định tại Khoản 1.1, Mục II Thông tư liên tịch số 34/2007 cho số ngày cao hơn ngày làm việc tiêu chuẩn.

3. Khoản bù chênh lệch giữa tiền lương và tiền công trả cho số ngày làm việc cao hơn số ngày làm việc tiêu chuẩn nói trên không được tính để đóng và hưởng các chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.

4. Huấn luyện viên, vận động viên hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong thời gian tham gia đôi tuyển quốc gia vẫn được cơ quan-tổ chức quản lý huấn luyện viên, vận động viên trả lương.

5. Yêu cầu các cơ quan-tổ chức sử dụng huấn luyện viên, vận động viên sắp xếp lịch hoạt động của các đội tuyển để không vượt giờ tiêu chuẩn làm việc trong tháng.