Điều 20. Chế độ thông tin, báo cáo
1. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm liên quan đến chủ quyền, an ninh quốc gia, dân tộc, nhân quyền, tôn giáo, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ và kịp thời với Công an tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh để giải quyết.
2. Trong phạm vi 07 (bảy) ngày làm việc sau khi kết thúc một hoạt động đối ngoại cụ thể, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm gửi văn bản báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng gửi Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Công an tỉnh và các cơ quan có liên quan khác về kết quả thực hiện, đồng thời đề xuất chủ trương và giải pháp thực hiện đối với những vấn đề phát sinh, kiến nghị kế hoạch thực hiện các thoả thuận với đối tác nước ngoài (nếu có).
3. Định kỳ 06 tháng, hàng năm và trong trường hợp đột xuất, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm gửi báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đối ngoại của cơ quan, đơn vị mình cho Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan có liên quan để theo dõi, tổng hợp báo cáo cấp thẩm quyền theo quy định. Thời hạn gửi báo cáo định kỳ quy định như sau:
a) Đối với báo cáo định kỳ 06 tháng, các cơ quan, đơn vị gửi báo cáo về Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 25 tháng 5 hàng năm.
b) Đối với báo cáo kết quả công tác đối ngoại hàng năm (theo mẫu 5 kèm theo) và hồ sơ Chương trình hoạt động đối ngoại năm sau, các cơ quan, đơn vị gửi về Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 15 tháng 11 hàng năm.
4. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định tại Điều 20 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 67/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo của các cơ quan, đơn vị trong tỉnh.