Điều 17. Khen thưởng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
1. Khen thưởng thường xuyên được xét hàng năm cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong số tập thể và cá nhân được khen thưởng danh hiệu và phải đạt các tiêu chuẩn theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3, Điều 49, Nghị định 42/2010/NĐ-CP, ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ.
- Về số lượng: Tối đa không quá 30% so với số tập thể và 20% so với số cá nhân được thủ trưởng cơ quan, đơn vị tặng Giấy khen
- Về cơ cấu: Trong danh sách đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh khen thưởng có tối đa không quá 30% cá nhân giữ chức vụ từ cấp Trưởng phòng trở lên
2. Khen thưởng sơ kết, tổng kết chương trình công tác nhiều năm, một đợt, phong trào thi đua được phát động phải dựa trên cơ sở các nội dung, tiêu chí, phát động thi đua khi triển khai, tiêu chuẩn xét khen thưởng được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt để trình khen thưởng;
3. Tặng Bằng khen đột xuất cho tập thể, cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc, gương người tốt - việc tốt, gương dũng cảm, vượt khó...ngay sau khi lập thành tích, được cơ quan, đơn vị phát hiện và đề nghị hoặc do quần chúng phát hiện, được Ban Thi đua - Khen thưởng trực tiếp thẩm định và đề nghị;
4. Tặng Bằng khen cho các tập thể, cá nhân trong, ngoài tỉnh; các tập thể, cá nhân nước ngoài có nhiều thành tích đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh của tỉnh;
5. Tặng Bằng khen cho các tập thể, cá nhân thuộc các cơ quan, đơn vị Trung ương đứng chân trên địa bàn tỉnh có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ được giao và tham gia các phong trào thi đua của tỉnh phát động. Nhưng số lượng đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh khen thưởng phải thấp hơn so với trình ngành dọc cấp trên khen thưởng và không vượt quá 20% so với số tập thể và 20% so với số cá nhân được cơ quan, đơn vị tặng Giấy khen.
6. Các trường hợp cụ thể khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.