vanban.org

Điều 2. Quy định cụ thể một số chính sách về bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định tại Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 như sau. — Quyết định 14/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 07/12/2012 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 07/12/2012 Thay thế: 36/2012/QĐ-UBND · 27/11/2012
Lai Châu Ban hành 09/08/2010 Hiệu lực 19/08/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 6 đời quyết định · 13 phiên bản · 16 năm
Quyết định số 34/2024/QĐ-UBND Ban hành Đơn giá bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu · 34/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 21/2023/QĐ-UBND Ban hành đơn giá bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu · 21/2023/QĐ-UBND
Quyết định số 30/2017/QĐ-UBND Ban hành đơn giá bồi thường về nhà, công trình xây dựng trên đất, cây trồng, vật nuôi và các tài sản khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu · 30/2017/QĐ-UBND
Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND V/v ban hành đơn giá bồi thường về nhà, công trình xây dựng trên đất, cây trồng, vật nuôi và các tài sản khác gắn liền với đất khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu · 42/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 36/2012/QĐ-UBND V/v ban hành đơn giá bồi thường về nhà, công trình xây dựng trên đất, cây trồng, vật nuôi và các tài sản khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh lai Châu · 36/2012/QĐ-UBND
Quyết định số 14/2010/QĐ-UBND Ban hành đơn giá bồi thường về nhà, công trình xây dựng trên đất, một số cây trồng và các tài sản khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu · 14/2010/QĐ-UBND
07/12/201236/2012/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 19/08/2010Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 14/2010/QĐ-UBND › Điều 2
Đọc toàn văn

Điều 2. Quy định cụ thể một số chính sách về bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định tại Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 như sau.

1. Quy định cụ thể Điều 18. Hỗ trợ di chuyển:

1.1. Khoản 1:

Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ như sau:

a) Hỗ trợ 2.500.000,0 đồng/hộ, nếu khoảng cách di chuyển dưới 10km;

b) Hỗ trợ 3.600.000,0 đồng/hộ nếu khoảng cách di chuyển từ 10km đến dưới 30km;

c) Hỗ trợ 5.000.000,0 đồng/hộ nếu khoảng cách di chuyển từ 30km đến 50 km;

d) Hỗ trợ 6.000.000,0 đồng/hộ nếu khoảng cách di chuyển từ 50 km trở lên trong phạm vi tỉnh.

e) Hỗ trợ 8.000.000,0 đồng/hộ nếu di chuyển ra phạm vi ngoài tỉnh.

Mức hỗ trợ quy định nêu trên đối với trường hợp hộ có từ 1 đến 4 khẩu, đối từ khẩu thứ 5 trở lên, thì cứ mỗi khẩu tăng thêm được hỗ trợ thêm 500.000 đồng.

1.2. Khoản 2:

Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc đang sử dụng đất hợp pháp khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển cơ sở sản suất, kinh doanh thì được hỗ trợ 100% chi phí thực hiện tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt và bồi thường 100% thiệt hại do tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt (chỉ áp dụng cho tổ chức tiếp tục duy trì hoạt động ở vị trí mới). Mức hỗ trợ di chuyển do tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi lập dự toán di chuyển (Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư căn cứ theo hiện trạng, thực tế kiểm tra hoàn thiện hồ sơ) trình Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thẩm định cùng với phương án bồi thường, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

1.3. Khoản 3:

Người bị thu hồi đất ở mà không còn chỗ ở khác thì được hỗ trợ tiền thuê nhà, thời gian tính hỗ trợ từ ngày bàn giao đất đến thời điểm theo thông báo của cơ quan có thẩm quyền giao nhận đất tái định cư cộng với 05 tháng xây dựng nhà ở, mức hỗ trợ hộ có 01 nhân khẩu là 500.000,0 đồng/hộ/tháng; hộ có từ 02 nhân khẩu trở lên là 1.000.000,0 đồng/hộ/tháng.

Trường hợp hộ gia đình nhận được thông báo nhận đất tại khu tái định cư, mà không nhận đất tái định cư, thì thời gian kéo dài kể từ ngày nhận được thông báo đến khi nhận đất tái định cư không được tính hỗ trợ tiền thuê nhà.

2. Quy định cụ thể Điều 19. Hỗ trợ tái định cư:

2.1. Suất tái định cư tối thiểu đối với đất ở đô thị là 105,0 m2, đất ở nông thôn là 200,0 m2; đối với nhà ở đô thị là 60,0 m2, nhà ở nông thôn là 80,0 m2 và được tính theo giá đất, đơn giá xây dựng nhà ở một tầng tại khu tái định cư và thời điểm tái định cư.

2.2. Suất đầu tư cơ sở hạ tầng tính cho một hộ gia đình tại điểm tái định cư tập trung được tính bằng tổng chi phí đầu tư hạ tầng kỹ thuật thiết yếu (san gạt mặt bằng, đường nội bộ, cống, rãnh thoát nước, cấp nước sinh hoạt) chia cho tổng diện tích mặt bằng nhân với diện tích đất ở theo suất tái định cư tối thiểu.

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phối hợp với chủ dự án xây dựng khu tái định cư xác định giá trị suất tái định cư tối thiểu, suất đầu tư cơ sở hạ tầng tính cho một hộ tái định cư trong phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định phê duyệt.

2.3. Mức hỗ trợ khoản tiền chênh lệch giữa giá trị bồi thường, hỗ trợ với giá trị suất tái định cư tối thiểu cho hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở, nhà ở tái định cư hoặc không nhận đất ở, nhà ở tái định cư và mức hỗ trợ suất đầu tư cơ sở hạ tầng cho hộ gia đình, cá nhân khi nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà tự lo chỗ ở thì do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xác định trong phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định tại điểm 2.2 khoản này.

3. Quy định cụ thể Điều 20. Hỗ trợ ổn định đời sống và sản suất:

3.1. Khoản 1:

a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian sáu (06) tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian mười hai (12) tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến địa bàn các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc điều kiện đặc biệt khó khăn (các huyện Sìn Hồ, Mường Tè, các xã thực hiện chương trình 135 của Chính phủ thuộc các huyện, thị xã) thì thời gian hỗ trợ là hai bốn (24) tháng;

b) Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian mười hai (12) tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian hai bốn (24) tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc điều kiện đặc biệt khó khăn (các huyện Sìn Hồ, Mường Tè, các xã thực hiện chương trình 135 của Chính phủ thuộc các huyện, thị xã) thì thời gian hỗ trợ là ba sáu (36) tháng;

c) Thời gian định kỳ chi trả hỗ trợ 6 tháng một lần (vào tháng 01 và tháng 7 hàng năm).

3.2. Khoản 2:

Khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức kinh tế, hộ sản suất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh và làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, mà bị ngừng sản suất, kinh doanh, thì được hỗ trợ một lần bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của ba năm liền kề trước đó và phải được cơ quan thuế xác nhận.

3.3. Khoản 3:

Mức hỗ trợ bằng giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại Điều 70 Luật Đất đai năm 2003, Điều 69 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.

3.4. Khoản 4:

Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản suất, bao gồm: hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản suất nông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản suất kinh doanh dịch vụ công, thương nghiệp. Hỗ trợ bằng tiền một lần với mức 3.000.000 đồng cho hộ đối với hộ có đến 5 khẩu, từ khẩu thứ 6 cứ tăng lên một (01) khẩu được cộng thêm năm trăm (500) ngàn đồng.

3.5. Quy định bổ sung:

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản suất nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp mà diện tích thu hồi lần đầu chưa đến 30% diện tích đất đang sử dụng hoặc bị thu hồi nhiều lần thuộc một dự án hoặc nhiều dự án khác nhau thì được cộng dồn diện tích đất đã bị thu hồi để xác định tỷ lệ thu hồi đất so với diện tích đất nông nghiệp được giao, để làm căn cứ tính toán các khoản hỗ trợ theo quy định. Thời điểm tính cộng dồn đất trồng cây hàng năm được thực hiện kể từ ngày 01/11/2009 (ngày Nghị định số 69/2009/NĐ-CP có hiệu lực thi hành). Trường hợp đã được hỗ trợ ở dự án trước thì lần sau chỉ được hỗ trợ phần chênh lệnh giữa các mức.

4. Quy định cụ thể Điều 21. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở:

4.1. Khoản 1:

Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ bằng 40% giá đất ở của thửa đất đó theo giá đất được Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định và công bố hàng năm; diện tích được hỗ trợ bằng 05 (năm) lần hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất vườn ao bị thu hồi.

4.2. Khoản 2:

Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; những thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, tiếp giáp với ranh giới khu dân cư, ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ bằng 30% giá đất ở trung bình của khu vực có đất thu hồi theo giá đất được Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định và công bố hàng năm; diện tích được hỗ trợ bằng 05 (năm) lần hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi.

- Giá đất ở trung bình là giá trung bình của các thửa đất ở liền kề theo bảng giá đất được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành. Trường hợp khu vực thu hồi không có giá đất ở thì giá đất ở trung bình được xác định là giá đất ở bình quân của các thửa đất có nhà ở gần nhất trong bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh công bố hàng năm.

- Xác định ranh giới khu dân cư:

Đối với những nơi đã có quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì căn cứ vào quy hoạch đó để xác định.

Đối với những nơi chưa có quy hoạch khu dân cư nhưng đã được công nhận là khu dân cư cũ, việc xác định ranh giới của khu dân cư được xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng liền kề các thửa đất có nhà ở cùng khu dân cư.

5. Quy định cụ thể Điều 22. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm:

5.1. Điểm a khoản 1:

Hỗ trợ bằng tiền, mức hỗ trợ bằng ba (03) lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất thực tế bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại Điều 70 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 69 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.

5.2. Điểm b khoản 1:

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu hỗ trợ một lần bằng một suất đất ở hoặc một suất đất sản suất, kinh doanh phi nông nghiệp thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ tái định cư căn cứ vào điều kiện quỹ đất của địa phương nơi di dân tái định cư và giá trị hỗ trợ đất nông nghiệp bị thu hồi của hộ gia đình, cá nhân trình cấp có thẩm quyền xét duyệt.

5.3. Khoản 3:

Trường hợp người được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề của Nhà nước và được miễn học phí đào tạo cho một khoá học nghề đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động với khoá học nghề.

- Mức hỗ trợ tối đa không quá ba (03) triệu đồng/người/khoá học.

- Kinh phí hỗ trợ học nghề được chuyển cho cơ sở đào tạo (không hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng học nghề), để phục vụ công tác giảng dạy và hỗ trợ tiền ăn, đi lại, sách bút, tài liệu cho đối tượng học nghề; cơ sở dậy nghề thực hiện việc quản lý và thanh, quyết toán theo quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 19/01/2006 của liên Bộ Tài chính, Lao động Thương binh và xã hội hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ dậy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn.

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm lập phương án đào tạo nghề trình phê duyệt đồng thời với phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Trung tâm đào tạo nghề của tỉnh và các huyện, thị có trách nhiệm tổ chức đào tạo nghề theo phương án được phê duyệt.

Kinh phí hỗ trợ chuyển đổi nghề nằm trong phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và được tính trong tổng kinh phí của dự án đầu tư hoặc phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư được phê duyệt.

6. Quy định cụ thể Điều 23. Hỗ trợ khác:

6.1. Khoản 1:

a) Hỗ trợ gia đình chính sách:

- Hộ gia đình có người hoạt động cách mạng trước 01/01/1945; anh hùng lực lượng vũ trang; anh hùng lao động; bà mẹ Việt Nam anh hùng; thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh có tỷ lệ thương tật từ 81% trở lên; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; thân nhân liệt sỹ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng, phải phá dỡ nhà chính để thực hiện giải phóng mặt bằng được hỗ trợ ba (03) triệu đồng/hộ.

- Hộ gia đình là thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh mất sức từ 21%-80%, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng, phải phá dỡ nhà chính để giải phóng mặt bằng được hỗ trợ hai (02) triệu đồng/hộ.

- Hộ gia đình được hưởng trợ cấp xã hội khác của Nhà nước phải di chuyển hoặc phải phá rỡ nhà chính để thực hiện giải phóng mặt bằng được hỗ trợ một (01) triệu đồng/người hưởng trợ cấp.

- Trong hộ gia đình có nhiều đối tượng hưởng chính sách xã hội, quy định tại điểm a, b, c khoản này thì được hưởng một trong các mức hỗ trợ cao nhất.

b) Hỗ trợ làm đường nước một (01) triệu đồng; nơi không có công trình nước tập trung thì hỗ trợ đào giếng hai (02) triệu đồng; hỗ trợ lắp đặt điện thoại, truyền hình tám (08) trăm ngàn đồng; điện chiếu sáng bẩy (07) trăm ngàn đồng.

c) Hỗ trợ kinh phí làm thủ tục rời nhà cũ đến địa điểm mới, mức hỗ trợ một lần ba (03) trăm ngàn đồng/hộ.

d) Chính sách thưởng đối với với việc di chuyển, bàn giao mặt bằng trước thời hạn.

- Người sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp (đủ điều kiện bồi thường) khi bị Nhà nước thu hồi đất, thời gian phải bàn giao mặt bằng tối đa là 30 ngày tính từ ngày thông báo nhận tiền đầu tiên, bàn giao mặt bằng trước ngày quy định từ 05 ngày đến dưới 15 ngày thì được thưởng 300đ/m2. Từ 15 ngày trở lên thì được thưởng 500đ/m2.

- Người bị thu hồi đất ở phải tháo dỡ toàn bộ nhà, công trình tự giác chấp hành di chuyển chỗ ở theo kế hoạch để bàn giao mặt bằng cho dự án trước thời hạn được thưởng di chuyển như sau:

+ Bốn (04) triệu đồng/hộ nếu di chuyển trước thời hạn từ 30 ngày trở lên;

+ Ba (03) triệu đồng/hộ nếu di chuyển trước thời hạn 15 ngày đến dưới 30 ngày;

+ Hai (02) triệu đồng/hộ nếu di chuyển trước thời hạn 05 ngày đến dưới 15 ngày;

- Người sử dụng đất ở phải phá dỡ một phần nhà chính (không phải di chuyển chỗ ở) bàn giao mặt bằng trước thời hạn được thưởng di chuyển bằng 50%  mức quy định tại điểm b khoản này.

- Tại thời điểm lập dự toán bồi thường, chủ dự án, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xác định thời hạn phải di chuyển thì mới tính thưởng di chuyển.

6.2. Khoản 2:

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản suất nông nghiệp có nguồn sống chính từ sản suất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng mà không đủ điều kiện để được bồi thường theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Điều 44, 45, 46 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP thì được hỗ trợ bằng 30% giá đất nông nghiệp bị thu hồi tối đa không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại theo quy định tại Điều 70 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 69 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.

7. Quy định cụ thể Điều 24. Bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất:

7.1. Điểm a khoản 2:

Việc xác định phần trăm giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình được xác định như sau:

Tỷ lệ (%) chất lượng còn lại của nhà, công trình bị thiệt hại do Tổ chức được giao thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện và được cơ quan chuyên ngành thẩm định theo phương án bồi thường;

Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình (ngoài mức bồi thường nhà, công trình bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại) được tính bằng 100% giá trị chênh lệch giữa giá trị xây mới và giá trị còn lại của nhà, công trình đó.

7.2. Quy định bổ sung đối với trường hợp nhà ở, công trình của tổ chức, hộ gia đình cá nhân hợp pháp không bị thu hồi đất, không bị phá dỡ công trình mà công trình vẫn đang sử dụng, do thực hiện dự án làm ảnh hưởng đến cốt nhà, công trình thì được xem xét bồi thường như sau:

a) Cốt đường, công trình của nhà nước cao hoặc thấp hơn cốt nền nhà từ 0,75m đến 1,5m thì được bồi thường phần ảnh hưởng đến nhà ở, công trình đó tiếp tục được sử dụng bình thường. Mức bồi thường như sau:

- Nếu nhà ở, công trình cách chỉ giới xây dựng công trình của nhà nước nhỏ hơn hoặc bằng 3,0m thì mức bồi thường bằng 50% đơn giá bồi thường.

- Nếu nhà ở, công trình cách chỉ giới xây dựng công trình của Nhà nước trên 3,0m đến 5,0m thì mức bồi thường bằng 30% đơn giá bồi thường về nhà, công trình.

b) Cốt đường, công trình của nhà nước cao hoặc thấp hơn cốt nền nhà từ trên 1,5m đến 2,5m so với hiện trạng trước khi xây dựng công trình nhà nước thì được bồi thường phần ảnh hưởng để nhà ở, công trình đó tiếp tục được sử dụng bình thường. Mức bồi thường như sau:

- Trường hợp nhà ở, công trình bị ảnh hưởng cách chỉ giới xây dựng công trình của nhà nước từ 0,0m đến 3,0m thì mức bồi thường bằng 80% đơn giá bồi thường.

- Trường hợp nhà ở, công trình bị ảnh hưởng cách chỉ giới xây dựng công trình của nhà nước từ trên 3,0m đến 5,0m thì mức bồi thường bằng 60% đơn giá bồi thường.

c) Trường hợp cốt đường, công trình của nhà nước cao hoặc thấp hơn cốt nền nhà trên 2,5m và khoảng cách đến cốt xây dựng công trình của nhà nước từ 0,0m đến 5,0m thì được bồi thường bằng 100% đơn giá bồi thường.

d) Đối với nhà ở, công trình của hộ gia đình, cá nhân có thể tháo dời và di chuyển đến chỗ ở mới thì chỉ bồi thường các chi phí tháo dời, vận chuyển, lắp đặt và vật liệu bị hao hụt, hư hỏng do tháo dời, vận chuyển, lắp đặt theo quy mô tương đương với công trình cũ thì hỗ trợ bằng 30% đơn giá bồi thường.