vanban.org

Điều 22. Tiến hành xác minh — Quyết định 1371/2007/QĐ-BCA(V24)

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Bộ Công an Ban hành 07/11/2007 Hiệu lực 22/11/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 1 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 1371/2007/QĐ-BCA(V24) Ban hành quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo trong công an nhân dân · 1371/2007/QĐ-BCA(V24)
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 1371/2007/QĐ-BCA(V24) › Chương III › Điều 22
Đọc toàn văn

Điều 22. Tiến hành xác minh

1. Làm việc với người tố cáo về các nội dung sau:

a) Giải thích quyền, nghĩa vụ của người tố cáo theo quy định của pháp luật; trường hợp người tố cáo rút toàn bộ nội dung hoặc một phần tố cáo thì phải lập biên bản ghi rõ lý do để báo cáo thủ trưởng có thẩm quyền quyết định.

b) Xác định lại nội dung tố cáo.

c) Yêu cầu người tố cáo trình bày chi tiết từng nội dung tố cáo và cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh. Các tài liệu do người tố cáo cung cấp phải có chữ ký xác nhận và lập biên bản theo quy định.

Khi làm việc với người tố cáo phải chuẩn bị trước nội dung, có ít nhất 2 cán bộ cùng làm việc và phải ghi thành biên bản theo mẫu số 24-Hệ thống mẫu biểu Thanh tra. Trường hợp người tố cáo yêu cầu giữ bí mật thì phải có kế hoạch giữ bí mật cho họ.

2. Làm việc với người bị tố cáo và lãnh đạo đơn vị có người bị tố cáo.

a) Người bị tố cáo phải có văn bản giải trình về nội dung bị tố cáo theo yêu cầu của Đoàn thanh tra hoặc Tổ xác minh và phải cung cấp đầy đủ tài liệu có liên quan đến nội dung giải trình.

b) Làm việc với lãnh đạo trực tiếp quản lý người bị tố cáo để trao đổi về những nội dung tố cáo và nội dung người bị tố cáo giải trình. Trường hợp người bị tố cáo là lãnh đạo đơn vị thì yêu cầu người bị tố cáo báo cáo giải trình trước tập thể đảng ủy, lãnh đạo đơn vị. Khi làm việc phải lập biên bản ghi đầy đủ, trung thực ý kiến của từng người trong cuộc họp và phải được đại diện lãnh đạo đơn vị, người bị tố cáo báo cáo giải trình, chủ trì, người ghi biên bản cùng ký vào biên bản.

3. Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, các báo cáo giải trình.

Sau khi thu thập hồ sơ tài liệu, nghe người tố cáo và người bị tố cáo giải trình, Đoàn thanh tra hoặc Tổ xác minh phải tổ chức nghiên cứu để bước đầu đánh giá tài liệu, chứng cứ và xác định những nội dung cần tập trung xác minh làm rõ.

4. Tiến hành xác minh.

a) Làm việc với người biết việc, người có liên quan để thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ nội dung tố cáo (việc thu giữ tài liệu, vật chứng thực hiện theo đúng điểm d khoản 5 Điều 10 của quy trình này).

b) Tiếp tục làm việc với người bị tố cáo để làm rõ những nội dung còn mâu thuẫn trong giải trình, trong tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

c) Quá trình xác minh, kết luận nội dung tố cáo Đoàn thanh tra hoặc Tổ xác minh có thể tiến hành các biện pháp: giám định, đối chất ... hoặc sử dụng các phương tiện hỗ trợ để công khai ghi âm, ghi hình, chụp ảnh để đảm bảo tính chính xác, khách quan trong giải quyết tố cáo.

d) Phân tích, đánh giá tổng hợp những tài liệu chứng cứ thu thập được, trên cơ sở đó đối chiếu với nội dung tố cáo để xem xét những nội dung tố cáo đã có đủ căn cứ, tài liệu kết luận; những nội dung tố cáo chưa đủ căn cứ, tài liệu kết luận cần xác minh, thu thập thêm tài liệu để kết luận.

Quá trình xác minh phải thực hiện đúng theo nội dung kế hoạch được duyệt, nếu phát sinh các nội dung tố cáo mới hoặc có những vấn đề phức tạp, nghiêm trọng phải báo cáo kịp thời với Thủ trưởng có thẩm quyền quyết định.

5. Đoàn thanh tra hoặc Tổ xác minh họp để đánh giá từng vấn đề nêu trong kế hoạch gồm:

a) Đánh giá các nội dung cần xác minh và tài liệu đã xác minh;

b) Đánh giá tài liệu đã thu thập về nội dung, tính hợp pháp;

c) Việc thực hiện quy chế Đoàn thanh tra;

d) Thống nhất đánh giá tổng quát kết quả xác minh;

e) Nêu nội dung cần xác minh bổ sung;

h) Phân công cán bộ làm tiếp những nội dung được nêu ra trong cuộc họp Đoàn thanh tra hoặc Tổ xác minh.