vanban.org

Điều 7. Cấp phát và thanh toán vốn. — Quyết định 133/2005/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Bình Phước Ban hành 22/11/2005 Hiệu lực 02/12/2005 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 1 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 133/2005/QĐ-UBND Ban hành quy định về quản lý thực hiện quyết định 134/2004/QĐ-TTG ngày 20/7/2004 của thủ tướng Chính phủ “về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo” trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 133/2005/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 133/2005/QĐ-UBND › Chương 2 › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Cấp phát và thanh toán vốn.

1. Đối với cấp tỉnh

Trình tự thực hiện và quản lý cấp phát vốn đầu tư cho Ban Dân tộc để xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung như đối với các công trình xây dựng hạ tầng thuộc chương trình 135 ở cấp tỉnh.

2. Đối với cấp huyện

Sở Tài chính căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch vốn đã được UBND tỉnh giao để chuyển vốn cho phòng Tài chính - Kế hoạch huyện theo hình thức trợ cấp có mục tiêu.

Phòng TC-KH huyện căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch đã được UBND huyện phê duyệt và các thủ tục tạm ứng, nghiệm thu để cấp phát cho UBND xã, đơn vị thụ hưởng bằng lệnh chi tiền qua Kho bạc NN huyện. Riêng đối với công trình cấp nước tập trung và khai hoang tập trung thì việc quản lý, cấp phát như đối với công trình XDCB thuộc chương trình 135.

Một số quy định cụ thể trong việc tạm ứng, cấp phát và thanh toán vốn:

a) Đối với các hộ dân được hỗ trợ nhà ở.

Phòng Tài chính - Kế hoạch căn cứ kết quả nghiệm thu của UBND xã tiến hành thẩm định và thực hiện cấp phát bằng lệnh chi tiền qua Kho bạc Nhà nước huyện cho UBND xã để thanh toán cho các hộ dân theo quy định tại mục a khoản 2 Điều 1 của quy định này.

Trường hợp các hộ dân có yêu cầu tạm ứng: Phòng Tài chính - kế hoạch huyện, thị xã làm thủ tục tạm ứng cho UBND xã qua Kho bạc Nhà nước để UBND xã tạm ứng cho các hộ dân. Mức tạm ứng không quá 60% mức Ngân sách Nhà nước hỗ trợ. Khi công trình hoàn thành, căn cứ kết quả nghiệm thu có xác nhận của UBND xã. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện cấp phát bằng lệnh chi tiền qua Kho bạc Nhà nước cho UBND xã để thanh toán cho các hộ dân đủ 6 triệu đồng/nhà. Đồng thời làm thủ tục thu hồi số tiền đã tạm ứng.

Trường hợp các hộ dân có nhu cầu cung ứng vật liệu, UBND xã tổng hợp đăng ký nhu cầu vật liệu của các hộ dân (phân loại từng loại vật liệu, chi tiết từng hộ) gửi UBND huyện xem xét chấp thuận. Căn cứ số lượng vật liệu các hộ dân ở các xã đăng ký, điều kiện cụ thể của từng xã trên địa bàn, UBND huyện (hoặc phòng, ban chức năng được UBND huyện giao) ký hợp đồng với các đơn vị cung ứng vật liệu, đơn vị này thực hiện việc cung ứng vật liệu cho các hộ dân tại thôn, bản. Căn cứ khối lượng vật liệu thực tế giao nhận cho các hộ dân có biên bản bàn giao giữa đơn vị cung ứng và từng hộ dân (có ký nhận của Chủ hộ và xác nhận của UBND xã) và đề nghị của UBND xã. Phòng Tài chính - Kế hoạch kiểm tra, lập lệnh chi tiền gửi Kho bạc Nhà nước để thanh toán cho các đơn vị cung ứng vật liệu theo chế độ hiện hành. Mức thanh toán tối đa không vượt quá 6 triệu đồng cho từng hộ dân.

Đối với các huyện có rừng và được sự đồng ý của UBND tỉnh về việc thực hiện hỗ trợ bằng gỗ cho các hộ dân làm nhà: Phòng Tài chính - Kế hoạch phối hợp với các đơn vị liên quan căn cứ khối lượng gỗ cung cấp cho các hộ dân để xác định giá trị khối lượng gỗ phản ánh vào ngân sách (ghi thu, ghi chi). Giá trị khối lượng gỗ hỗ trợ cho các hộ dân được xác định là phần Ngân sách địa phương hỗ trợ các hộ dân. Chi phí khai thác, vận chuyển gỗ (nếu có) cũng được tính vào giá trị khối lượng gỗ. Giá trị gỗ hỗ trợ cho các hộ dân cũng không vượt quá mức hỗ trợ của Nhà nước.

b) Đối với các hộ dân được hỗ trợ nước sinh hoạt.

+ Hộ dân được cấp lu, stéc chứa nước:

Căn cứ danh sách bình xét của các hộ dân được duyệt, hợp đồng cung ứng giữa UBND huyện (hoặc cơ quan được UBND huyện chỉ định) với đơn vị cung ứng lu, stéc chứa nước; khối lượng lu, stéc chứa nước thực tế giao nhận với các hộ dân theo biên bản bàn giao giữa đơn vị cung ứng và từng hộ dân (có ký nhận của Chủ hộ và xác nhận của UBND xã) và đề nghị của UBND xã. Phòng Tài chính - Kế hoạch kiểm tra, lập lệnh chi tiền gửi Kho bạc Nhà nước huyện để thanh toán cho các đơn vị cung ứng lu, stéc chứa nước theo chế độ hiện hành.

+ Đối với các hộ dân tự làm bể chứa nước, đào giếng hoặc tự tạo nguồn nước khác:

Phòng Tài chính - Kế hoạch căn cứ kết quả nghiệm thu của UBND xã, thẩm định và thực hiện cấp phát bằng lệnh chi tiền qua Kho bạc nhà nước huyện cho UBND xã để thanh toán cho các hộ dân theo quy định tại mục b khoản 2 Điều 2 của quy định này.

Trường hợp các hộ dân chọn lựa hình thức nhận xi măng: Căn cứ danh sách bình xét của các hộ dân được duyệt, hợp đồng cung ứng giữa UBND huyện, thị xã (hoặc đơn vị được UBND huyện chỉ định) với đơn vị cung ứng xi măng, khối lượng xi măng thực tế cấp cho các hộ dân theo, giá bán đến thôn bản đã ký kết, biên bản bàn giao giữa đơn vị cung ứng và từng hộ dân (có ký nhận của Chủ hộ và xác nhận của UBND xã) và đề nghị của UBND xã, Phòng Tài chính - Kế hoạch kiểm tra, lập lệnh chi tiền gửi Kho bạc Nhà nước huyện để thanh toán cho các đơn vị cung ứng xi măng theo chế độ hiện hành.

c) Khai hoang đất sản xuất và đất ở

+ Đối với hộ dân tự khai hoang hoặc thuê mướn lao động để khai hoang:

Căn cứ danh sách các hộ dân đăng ký tự tổ chức khai hoang, biên bản nghiệm thu, giấy đề nghị của UBND xã, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện kiểm tra và cấp phát bằng lệnh chi tiền cho UBND xã qua Kho bạc Nhà nước huyện để chi trả cho các hộ dân. Mức thanh toán:

- Khai hoang cơ giới (Ủi hoang, móc gốc cây, cày 2 lượt): 3 triệu đồng/ha.

- Khai hoang thủ công (Phát, đốt, dọn đất): 2 triệu đồng/ha.

+ Đối với khai hoang tập trung do UBND xã (hoặc đơn vị được UBND huyện chỉ định) tổ chức thực hiện: Trình tự thực hiện và quản lý như đối với các công trình xây dựng hạ tầng thuộc chương trình 135.

d) Các chi phí quản lý, thực hiện chương trình ở các cấp

- Chi phí quản lý, thực hiện chương trình của các cơ quan, đơn vị các cấp được cân đối trong kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm của các đơn vị đó.

- Nguồn vốn thực hiện chương trình chỉ chi cho chi phí quản lý công trình theo chế độ hiện hành cho đơn vị quản lý, thực hiện các công trình đầu tư XDCB tập trung.

3. Thủ tục cụ thể trong cấp phát và thanh toán vốn.

Giao cho Sở Tài chính hướng dẫn các phòng TC-KH và KBNN huyện, thị thực hiện chi tiết các quy định tại khoản 1 và 2 của điều này.