Điều 9. Quản lý đất bãi bồi ven sông, ven biển
1. Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc xác định, cắm mốc, phân ranh giới giữa đất bãi bồi ven sông, ven biển với các thửa đất giáp cận của các tổ chức,, hộ gia đình, cá nhân để tránh tình trạng tranh chấp, lấn chiếm và giao Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm quản lý ranh giới, mốc giới đã được xác định; lập, lưu trữ hồ sơ quản lý và xử lý vi phạm đối với các trường hợp bao chiếm sử dụng.
2. Đất bãi bồi ven sông, ven biển phải kê khai, đăng ký vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính để xác lập quyền quản lý của Nhà nước như sau:
a) Đất bãi bồi ven sông, ven biển chưa sử dụng thuộc địa phận xã, phường, thị trấn nào thì do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất quản lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 141 Luật Đất đai ngày 29/11/2013, đồng thời có trách nhiệm rà soát, lập danh sách và hàng năm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện về tình hình quản lý, khai thác quỹ đất chưa sử dụng quy định tại Khoản 2 Điều 58 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
b) Đối với các địa phương mà quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa thể hiện nội dung sử dụng đất bãi bồi ven sông, ven biển thì Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức việc rà soát để điều chỉnh, bổ sung vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/8/2014 của Chính phủ.
c) Đất bãi bồi ven sông, ven biển thường xuyên được bồi tụ hoặc bị sạt lở thì Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý và bảo vệ. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm điều tra, khảo sát, theo dõi đánh giá quỹ đất bãi bồi ven sông, ven biển thường xuyên được bồi tụ hoặc sạt lở để có kế hoạch sử dụng phù hợp.