vanban.org

Điều 20. Việc thanh tra, kiểm tra các Doanh nghiệp Khu công nghiệp: — Quyết định 127/2001/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 14/07/2009 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 14/07/2009
Bắc Ninh Ban hành 29/11/2001 Hiệu lực 13/12/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 24 năm
Quyết định số 127/2001/QĐ-UB Về việc ban hành quy chế phối hợp quản lý Nhà nước đối với các Khu công nghiệp Bắc Ninh · 127/2001/QĐ-UB
14/07/2009100/2009/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 13/12/2001Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 127/2001/QĐ-UB › Chương III › Điều 20
Đọc toàn văn

Điều 20. Việc thanh tra, kiểm tra các Doanh nghiệp Khu công nghiệp:

1. Việc thanh tra, kiểm tra hoạt động của các Doanh nghiệp Khu công nghiệp phải đảm bảo thực hiện đúng chức năng, đúng thẩm quyền, tuân thủ quy định pháp luật Nhà nước hiện hành và phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, công khai, dân chủ.

2. Các cơ quan có chức năng về thanh tra, kiểm tra có trách nhiệm lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và gửi Ban quản lý các Khu công nghiệp để phối hợp thực hiện việc thanh tra, kiểm tra.

3. Việc thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp chỉ được thực hiện khi có quyết định của Thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Không được tiến hành trùng lặp. Kiểm tra định kỳ, kiểm tra chuyên ngành được thực hiện không quá 01 lần trong 01 năm đối với một doanh nghiệp.

Kiểm tra định kỳ do Ban quản lý chủ trì, phối hợp với cơ quan chuyên ngành thực hiện;

Kiểm tra chuyên ngành do cơ quan chuyên ngành chủ trì, phối hợp với Ban quản lý để thực hiện.

4. Khi quyết định thanh tra phải thông báo trước cho doanh nghiệp ít nhất 07 ngày, trừ trường hợp thanh tra bất thường. Thời hạn thanh tra tối đa không quá 30 ngày, trong trường hợp cần thiết thời hạn thanh tra có thể gia hạn nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.

5. Khi quyết định kiểm tra phải thông báo trước cho doanh nghiệp ít nhất 03 ngày, trừ trường hợp kiểm tra bất thường. Thời hạn kiểm tra trực tiếp của mỗi cuộc tối đa là 05 ngày. Khi cần thiết thời hạn kiểm tra có thể được gia hạn nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.

6. Khi kết thúc việc thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp phải có kết luận bằng văn bản về nội dung thanh tra, kiểm tra; người được giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận của mình. Kết luận về nội dung thanh tra, kiểm tra phải gửi cho Ban quản lý và các doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra, đồng thời báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh.

7. Thanh tra, kiểm tra bất thường khi doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc khi có sự cố được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

8. Trình tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra được thực hiện theo quy định tại Nghị định 61/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ về thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp.