Điều 6. Những hàng hoá được tính trong thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam:
Hàng hoá mua bán, trao đổi với nước ngoài thông qua các hợp đồng thương mại, hợp đồng gia công, đổi hàng, hợp tác kinh tế, hợp tác đầu tư, liên doanh với nước ngoài, được ký giữa Chính phủ, các doanh nghiệp hoặc các cá nhân;
Hàng hoá thuộc các chương trình viện trợ Chính phủ, phi Chính phủ, các tổ chức quốc tế và các hình thức viện trợ nhân đạo khác;
Hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất hoặc tạm xuất tái nhập;
Vàng phi tiền tệ (có mã HS là 710811, 710812, 710813);
Tiền giấy (có mã HS là 49070020), tiền xu (có mã HS là 7118) không dùng trong lưu thông, séc không phát hành (có mã HS là 49070030), các bộ sưu tập tiền xu hoặc tiền giấy (có mã HS là 97050090);
Hàng hoá cho thuê hoặc đi thuê với thời hạn trên một năm (chẳng hạn như: thiết bị nhà thầu, máy bay, tàu thuyền,...);
Hàng hoá đưa ra nước ngoài để sửa chữa, hoàn thiện và hàng hoá của nước ngoài đưa vào Việt Nam để sửa chữa, hoàn thiện (chỉ tính lượng, trị giá phụ tùng thay thế khi sửa chữa);
Hàng hoá đưa đi tham dự hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm ở nước ngoài sau đó được bán, tặng, trao đổi ở nước ngoài và ngược lại, hàng hoá của nước ngoài nhập vào nước ta với các mục đích trên, sau đó không tái xuất khẩu;
Hàng hoá mua bán của cư dân biên giới với các nước có chung đường biên giới;
Hàng hoá vượt quá tiêu chuẩn hành lý cá nhân do Chính phủ Việt Nam qui định khi xuất cảnh , nhập cảnh;
Điện, khí đốt, nước mua bán giữa Việt Nam với các nước;
Xăng dầu cho máy bay, tàu thuyền trong giao thông quốc tế;
Hàng hoá là vật mang tin (như băng từ, đĩa từ, CD…) đã ghi âm, ghi hình, dữ liệu hoặc phần mềm máy tính được sản xuất phục vụ nhiều đối tượng sử dụng hoặc để mua/bán thông thường (trừ loại chứa bản gốc được sản xuất theo yêu cầu riêng);
Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua phương thức thương mại điện tử.