vanban.org

Điều 5. Hỗ trợ khác đối với người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại khoản 2 Điều 108 của Luật số 31/2024/QH15 — Quyết định 120/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 29/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Gia Lai Ban hành 29/07/2026 Hiệu lực 29/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 120/2026/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Hỗ trợ khác đối với người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại khoản 2 Điều 108 của Luật số 31/2024/QH15

1. Hỗ trợ về nhà, công trình xây dựng trên đất

a) Đối với nhà, công trình do hộ gia đình, cá nhân xây dựng trên đất không đủ điều kiện bồi thường về đất theo quy định hoặc xây dựng trên đất được bồi thường về đất nhưng xây dựng không đúng mục đích sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ như sau:

a1) Xây dựng trước ngày 01/7/2004 được hỗ trợ 80% giá trị nhà, công trình;

a2) Xây dựng từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 được hỗ trợ 50% giá trị nhà, công trình;

a3) Xây dựng từ ngày 01/7/2014 đến trước ngày 01/8/2024 được hỗ trợ 20% giá trị nhà, công trình.

b) Đối với nhà do hộ gia đình, cá nhân xây dựng trái phép trên đầm, sông, rạch, mặt nước được hỗ trợ theo tỷ lệ phần trăm (%) so với giá trị bồi thường tính theo đơn giá bồi thường thiệt hại về nhà, công trình hiện hành do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định đối với phần diện tích nhà, vật kiến trúc bị giải tỏa, như sau:

b1) Hỗ trợ 100% đối với trường hợp xây dựng trước ngày 15/10/1993;

b2) Hỗ trợ 70% đối với trường hợp xây dựng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004;

b3) Hỗ trợ 50% đối với trường hợp xây dựng từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014;

b4) Hỗ trợ 20% đối với trường hợp xây dựng từ ngày 01/7/2014 đến trước ngày 01/8/2024.

2. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bị ngừng sản xuất, kinh doanh do Nhà nước thu hồi đất, không thuộc trường hợp quy định tại Điều 13 Quyết định số 27/2025/QĐ-UBND ngày 07/10/2025 của UBND tỉnh thì được hỗ trợ theo doanh thu tính thuế của năm liền kề trước thời điểm có thông báo thu hồi đất như sau:

a) Doanh thu dưới 8.400.000 đồng/tháng, hỗ trợ một lần 3.000.000 đồng/cơ sở.

b) Doanh thu từ 8.400.000 đồng/tháng đến 20.000.000 đồng/tháng, hỗ trợ một lần 5.000.000 đồng/cơ sở.

c) Doanh thu trên 20.000.000đồng/tháng trở lên, hỗ trợ một lần 8.000.000

đồng/cơ sở.

Việc xác định doanh thu của tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh do cơ quan thuế chịu trách nhiệm cung cấp bằng văn bản.

3. Đối với hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh hoặc người thuê lại diện tích đất mà bị ngừng sản xuất nhưng không có giấy phép kinh doanh thì được hỗ trợ một lần 1.500.000 đồng/cơ sở.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xác nhận hộ sản xuất kinh doanh quy định tại khoản này.

4. Hộ gia đình, cá nhân có đất ở bị thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở thì được

hỗ trợ tiền trong thời gian xây dựng, sửa chữa nhà ở như sau:

a) Trường hợp giải tỏa trắng nhà ở phải di chuyển đến nơi tái định cư hoặc tái định cư lùi phía sau thửa đất bị thu hồi thì được hỗ trợ 06 tháng.

b) Trường hợp nhà ở giải tỏa một phần mà phần diện tích còn lại không đảm

bảo công năng sử dụng thì được hỗ trợ 03 tháng.

c) Mức hỗ trợ 3.000.000 đồng/tháng.

5. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở (kể cả đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền với đất ở đã được tách ra thành thửa đất riêng theo quy định của pháp luật) thì ngoài việc được bồi thường về đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật còn được hỗ

trợ thêm 50% giá đất ở bồi thường của thửa đất đó đối với diện tích đất bị thu hồi; trường hợp diện tích đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở bị thu hồi trên 500m2 thì diện tích đất được hỗ trợ theo giá đất ở là 500m2; trường hợp diện tích đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở bị thu hồi nhỏ hơn hoặc bằng 500m2 thì diện tích đất được hỗ trợ theo giá đất ở theo diện tích thực tế thu hồi.

Quy định tại khoản này không áp dụng đối với trường hợp thửa đất nông nghiệp thuần túy (độc lập) đã được chuyển mục đích một phần diện tích sang đất ở và phần diện tích còn lại của thửa đất là đất nông nghiệp và các trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai.

6. Trường hợp thu hồi đất để thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh mà người có đất thu hồi không được bố trí chỗ ở tạm cư trong thời gian tạo lập chỗ ở mới, không thuộc trường hợp quy định tại Điều 16 Quyết định số 27/2025/QĐ-UBND ngày 07/10/2025 của UBND tỉnh thì được hỗ trợ tiền thuê nhà ở theo quy định như sau:

a) Đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất đủ điều kiện bồi thường về đất ở được hỗ trợ theo quy định như sau:

a1) Đất ở bị thu hồi hết được hỗ trợ 06 tháng tiền thuê nhà ở, mức hỗ trợ là

3.000.000 đồng/tháng/hộ.

a2) Đất ở bị thu hồi một phần mà phần diện tích đất ở còn lại đủ điều kiện xây dựng nhà ở theo quy định hoặc di chuyển tái định cư lùi phía sau được hỗ trợ 04 tháng tiền thuê nhà ở, mức hỗ trợ là 3.000.000 đồng/tháng/hộ.

a3) Trường hợp hộ gia đình được hỗ trợ quy định tại điểm a1 và a2 khoản này mà có trên 04 (bốn) thành viên thì mỗi thành viên tăng thêm được hỗ trợ

500.000 đồng, nhưng không quá 6.000.000 đồng/tháng/hộ.

b) Đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện bồi thường về đất ở, không còn chỗ ở khác trong địa bàn cấp xã, được bố trí đất tái định cư để xây dựng nhà ở thì được hỗ trợ 04 tháng tiền thuê nhà ở, mức hỗ trợ là 3.000.000 đồng/tháng/hộ.

7. Đối với phần diện tích còn lại sau khi đã xác định diện tích đất mồ mả được hỗ trợ theo đơn giá đất ở theo quy định tại khoản 4, Điều 5 của Quyết định số 27/2025/QĐ-UBND ngày 07/10/2025 của UBND tỉnh, nếu hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp thì được hỗ trợ bằng 100% giá đất nông nghiệp cụ thể; diện tích hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 176 của Luật Đất đai năm 2024.

8. Để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, nếu hộ gia đình, cá nhân có tài sản gắn liền với đất thu hồi mà bàn giao đất sớm cho dự án thì được thưởng thêm theo quy định sau:

a) Đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất gắn liền với nhà ở mà bàn giao mặt bằng trước thời hạn 30 ngày được thưởng 10.000.000 đồng;

b) Trường hợp chỉ bị phá dỡ tường rào, cổng ngõ gắn liền với đất; vật kiến trúc và công trình xây dựng không phục vụ vào mục đích để ở mà không được bồi thường, hỗ trợ mà bàn giao đất trong vòng 10 ngày được thưởng 1.000.000 đồng.

c) Các mức thưởng quy định tại điểm a, b khoản này áp dụng đối với những trường hợp thực hiện bàn giao đất theo thời hạn quy định (kể cả những trường hợp có khiếu nại về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhưng đã thực hiện bàn giao đất cho dự án). Thời gian quy định tính thưởng kể từ ngày quy định nhận tiền bồi thường, hỗ trợ ghi trong Thông báo nhận tiền bồi thường, hỗ trợ lần đầu (hoặc giấy mời lần đầu) đã gửi cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản.

9. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01/7/2014 thì được hỗ trợ về đất theo quy định như sau:

a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở trước ngày 15/10/1993 mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở theo quy định của pháp luật, không có tranh chấp thì được hỗ trợ về đất bằng 40% đơn giá đất ở để tính bồi thường đối với diện tích đất đã xây dựng nhà ở bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định.

b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở theo quy định của pháp luật, không có tranh chấp thì được hỗ trợ về đất bằng 30% đơn giá đất ở để tính bồi thường đối với diện tích đất đã xây dựng nhà ở bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định.

c) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở theo quy định của pháp luật, không có tranh chấp thì được hỗ trợ về đất bằng 20% đơn giá đất ở để tính bồi thường đối với diện tích đất đã xây dựng nhà ở bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định.